The LAMBROs

The LAMBROs Rock/Metal - Cold Beer - Finger Food

14/05/2026

Chỉ với vài nốt nhạc, B.B. King có thể tạo ra tổ hợp của vô vàn các câu đàn mang từng sắc thái riêng qua trường độ, âm lượng và âm sắc của mỗi nốt. Nhờ đó mà King đã chơi biết bao câu đàn qua sự cảm nhận tinh tế truyền từ cảm xúc bên trong ra các ngón tay lướt trên dây đàn mà không ai bắt chước nổi. Ông có thể chơi 2 khuông nhạc cùng một tiết tấu giai điệu để tạo độ lặp và gây bất ngờ với sự hoán đổi vị trí các nốt ở khuông thứ ba để tạo sự bất ngờ. Ông có thể chơi lúc nhanh, lúc chậm, hay để nốt nhạc vang lên vào những phách nhẹ gây hứng thú cho đôi tai. Ông khéo léo lựa chọn những nốt được nhấn có âm lượng lớn và âm sắc rõ nét chơi xen kẽ với các nốt nhẹ làm nền. Qua đó tiếng đàn của cây “Lucille” như đang nói chuyện với ông vậy. Giống như cách King hát với sự lên xuống của cao độ và âm lượng của mỗi ca từ, Lucille đáp lại bằng các câu phrasing ngọt ngào tình tứ như một người phụ nữ.

Thế nhưng, giống như cách King thể hiện bài hát với độ rung cùng kỹ thuật melisma, cây đàn Lucille cũng lại như ai oán và nấc lên từng hồi qua cách ông dùng kỹ thuật vibrato và bend dây điệu nghệ. Khác với nhiều nghệ sĩ nhạc Blues khi rung nốt nhạc trên dây đàn, bàn tay của họ thường ôm sát với cần đàn, thì B.B. King lại mở gần như hết các ngón ra xa để dồn lực vào đúng một ngón và tạo tiếng rung với biên độ rộng hơn, khiến bàn tay ông lắc uyển chuyển như đôi cánh bướm – một kỹ thuật được người ta gọi là “butterfly vibrato”. King tiếp cận lối chơi này vì ông muốn tạo được âm sắc uyển chuyển về cao độ nốt nhạc giống như tiếng slide guitar mà Bukka White – người anh họ mà King từng ở nhờ khi chuyển lên Memphis, hay chơi. Còn về kỹ thuật bend dây, quả thực những nốt nhạc được nhéo tiếng gần với quãng ¼ cung của King luôn là những “tiếng khóc” ngọt ngào nhất mà tôi cảm nhận được khi nghe cây Lucille của ông hát. Nhờ các cách biến hóa trên dây đàn này mà nốt nhạc ông chơi luôn có độ ngân vang dài, kể cả khi con người ta còn chưa sáng chế ra những chiếc phơ chuyên dụng.

Một loạt các nhạc phẩm, cả bản phòng thu cũng như diễn live đều chuyển tải tới người nghe những cảm xúc buồn vui lẫn lộn qua những màn “song ca” giữa King và Lucille. Tiếng đàn Lucille mở và hạ màn cho câu chuyện của King trong “It’s My Own Fault”, rồi thổn thức theo tiếng hát của King trong “Rainin’ All The Time”, tỉ tê như níu King lại trong “All Over Again”, và sâu lắng du dương cùng giọng hát của King trong “The Thrill Is Gone”.

Và cứ như vậy ở mỗi bài, mỗi khi B.B. King ngưng hát, tiếng đáp của Lucille lại vang lên, như thể một tri kỷ gắn bó suốt sự nghiệp âm nhạc của ông cho đến cuối đời.

RIP The King of the Blues (16.9.1925 – 14.5.2015)

31/03/2026

Eric Clapton là người duy nhất trong lịch sử nhạc Rock được vinh danh đến ba lần tại Rock And Roll Hall Of Fame, một lần với The Yardbirds - bệ phóng cho những người thay thế chính ông như Jeff Beck và Jimmy Page, một lần với Cream – ban nhạc cho ra lò toàn tuyệt phẩm Fresh Cream (1966), Disraeli Gears (1967), Wheels Of Fire (1968) và Goodbye (1969), và một lần với tư cách nghệ sĩ solo cùng khối tài sản tri thức âm nhạc đồ sộ.

Đấy là chưa kể đến các tác phẩm kinh điển khác của Clapton trong thập niên 60s, gồm đĩa Blues Breakers With Eric Clapton (1966) tham gia cùng John Mayall và The Bluesbreakers, đĩa Blind Faith (1969) của supergroup cùng tên gồm ông, Steve Winwood, Ric Grech và Ginger Baker, và đĩa Layla And Other Assorted Love (1970) của ban nhạc rock với sự kết hợp hiếm hoi giữa Clapton và Duanne Allman trong Derek And The Dominos.

Ở thời kỳ hoàng kim đó, Eric Clapton là bất khả chiến bại khi dự án âm nhạc nào có bàn tay vàng được mệnh danh “slow hand” của ông đều được liệt vào các tác phẩm huyền thoại của nhân loại.

Xin chúc mừng sinh nhật Eric Clapton (30.3.1945)!

19/03/2026

Trong ca khúc “Mama’s Little Angels” của band Quiet Riot, Randy Rhoads chỉ được chơi một câu riff rất đơn giản “vỡ lòng” để Kevin DuBrow hát trên đó. Đoạn điệp khúc đa phần chỉ có 3 hợp âm, đoạn bridge 3 hợp âm. Nhưng rồi tới khi vào đoạn solo, Rhoads đã không dung lại những hợp âm của điệp khúc hay verse nữa, mà chỉ mượn hợp âm thứ của toàn bài để xây lại một phần nhạc nền hoàn toàn mới cho anh solo. Đoạn nhạc từ 1:48 tới 2:09 nghe sống động và nhiều màu sắc hơn hẳn những gì cả band làm được từ đầu bài hát.

Cách làm nhạc của Quiet Riot chỉ chứng tỏ họ chưa thể hòa hợp với nhau và ở một khía cạnh nào đó, tài năng của Randy Rhoads đang bị lãng phí dù rằng khán giả vẫn đa số kéo đến để xem anh.

Khi Randy Rhoads bỏ Quiet Riot để sang chơi cho Ozzy Osbourne, anh đã đẩy cách chơi của mình lên hẳn một tầm cao mới. Điển hình như ca khúc kinh điển “Crazy Train”, Randy Rhoads đã dung đủ cả 7 hợp âm của dải harmonic minor scale trong đoạn solo của mình. Ấy là chưa nói đến việc cách xử lý linh hoạt của Randy trong phần verse khiến cho phần rhythm lúc nào cũng sống động dù rằng khối lần trong bài này Ozzy vẫn luôn chỉ hát trên 1 hợp âm.

Mẹ của Randy Rhoads chính là nhân tố đẩy anh tới band của Ozzy Osbourne. Randy đã miễn cưỡng mang amp đi audition theo yêu cầu của mẹ và chơi cho Ozzy nghe ngay trong phòng khách sạn. Ozzy lúc đó vẫn còn xỉn quắc cần câu thậm chí còn tưởng Randy là phái nữ với mái tóc dài và giày cao gót.

“Anh muốn em chơi gì?” – Randy hỏi.

“Gì cũng được” – bởi Ozzy chỉ muốn về nhà.

Nhưng khi Randy Rhoads bắt đầu chơi thì Ozzy chỉ còn biết há hốc miệng “lạy chúa tôi - mày giỏi thế thật sao?”.

Randy Rhoads trở thành tay guitar cho Ozzy Osbourne. Thế nhưng anh cũng chỉ chơi được cùng Ozzy trong khoảng thời gian hơn 2 năm, chỉ kịp thu âm 2 album trước khi ra đi mãi mãi ở tuổi 25.

RIP Randy Rhoads (6.12.1956 - 19.3.1982)

06/03/2026

Ban nhạc Manowar được bắt đầu vào năm 1980 từ tay bass Joey DeMaio, vốn là kỹ thuật viên chỉnh đàn bass kiêm chuyên gia khói lửa trong tour diễn của Black Sabbath thời Ronnie James Dio, và tay guitar Ross Friedman tự là “The Boss”, vốn là lead guitar cho ban nhạc punk rock Dictators nhưng lúc đó đang tình cờ đi tour cùng ban nhạc đánh mở màn cho Sabbath. Manowar đã được tạo ra với một bản demo từ các ý tưởng riêng rẽ của DeMaio và The Boss. Họ tìm đến Eric Adams, ca sĩ có giọng hát chói vói vốn là bạn học của DeMaio và rủ anh này tham gia ban nhạc.

Với đầu óc marketing tinh tường của mình, Joey DeMaio quyết định đẩy hình ảnh “kiếm hiệp” của ban nhạc lên một tầm cao mới. Họ ký hợp đồng với hãng đĩa bằng máu và vặn dần volume trong các buổi biểu diễn của họ lên thật lớn, tới mức vào năm 1984, Manowar đã từng ghi tên mình vào sách kỷ lục Guinness khi trở thành ban nhạc chơi live ồn nhất trong lịch sử, danh hiệu mà tự họ đã phá thêm vài lần sau đó.

Trong Manowar, Joey sử dụng cây Piccolo bass của mình để hoà hợp với Columbus và The Boss thành bộ ba chơi rhythm đầy chặt chẽ. Nói gì thì nói, cây đàn Piccolo bass của Joey DeMaio xem ra gây tò mò với người xem nhiều hơn là tạo ra được hiệu ứng kết nối như một cây đàn bass kiểu truyền thống. Điểm đặc biệt của cây bass này là nó sử dụng dây đàn nhỏ hơn và được căn ở cùng cao độ với guitar. Cần đàn cũng hẹp hơn những cây bass truyền thống và action thì thấp như một cây đàn guitar, khiến cho người chơi có thể tăng tốc cũng như chơi hợp âm như một tay guitar rhythm thứ hai phía sau lead guitar. Khá giống như cách mà Lemmy chơi đúng không?

Dù gì thì đó cũng là cách Manowar tạo ra âm thanh đặc trưng cho riêng mình. Hãy mở âm lượng lên thật lớn, đắm mình vào trong lời lẽ đầy sự hoang đường được nhấn nhá trong từng câu chữ một cách đầy chủ ý. Tôi tin chắc bạn dù muốn hay không cũng không thể giữ cái đầu và cổ của mình ở yên vị trí.

Xin chúc mừng sinh nhật - Joey DeMaio (6.3.1954), bassist kiêm người đồng sáng lập cũng như đóng vai trò sáng tác chính cho ban nhạc Manowar.

26/02/2026

KHI JOE PERRY VỚI SLASH SUÝT THÌ NGHỈ CHƠI VÌ CÂY GUITAR MÀ CHÚNG TA ĐỀU BIẾT TRONG VIDEO “NOVEMBER RAIN”

Với các anh em cầm thủ, kiếm được cây đàn ưng ý khéo còn sướng hơn cả kiếm được người yêu. Chả thế nên mới có chuyện các anh có thể swap vợ cho nhau như Clapton – Harrison, chứ swap đàn thì dẹp. Và cũng chỉ vì một cây đàn mà cầm thủ của Aerosmith suýt nữa dẹp luôn tình anh em với Slash. Chia sẻ với tờ Guitar World, Joe Perry cho biết vào năm 1979, sau khi rời khỏi Aerosmith (trước khi quay lại vào năm 1984) và rơi vào cảnh nghèo như con mèo, Joe đã bán chiếc 1959 To***co Burst Les Paul với giá 4500 Trump. Chiếc đàn sau đó qua tay nhiều chủ, trong đó có cầm thủ nổi tiếng như Eric Johnson và cuối cùng là Slash.

Về phía Slash, anh này kể là mình được một tay chào bán cây guitar có nguồn gốc sở hữu của Joe Perry đại tài khi đang đi lưu diễn cùng Guns N’ Roses ở Nhật Bản. Không tin vào mắt mình, Slash đã mua lại với giá 8 nghìn đô sau khi kiểm chứng tính xác thực của nguồn gốc cây đàn. Slash đã dùng trong nhiều dịp khác nhau, trong đó không thể không kể đến video “November Rain”, biến cây Les Paul vàng trở thành một phần gắn liền với guitarist của band Hoa Cải và Hoa Hồng.

Trở về với nhân vật Joe, sau khi tái hợp với Aerosmith năm 1984, anh này mới nghĩ tới chuyện hội ngộ người yêu cũ và tìm mọi cách để mua lại cây đàn trên.

“Tôi bắt đầu gọi điện và nói chuyện với mấy tay kỹ thuật âm thanh của mình để tìm lại chiếc đàn. Trong lúc đó, cứ mỗi 6 tháng, giá trị của dòng phiên bản năm 1959 lại tăng đều đặn.”

Sau đó, Brad Whitford – đồng đội của Joe đã mở cuốn tạp chí Guitar Player cho Joe xem bộ sưu tập đàn của Slash, và ngay giữa tấm hình, cây Les Paul ’59 nằm chình ình ở đó.
Nhưng mọi chuyện không dễ tí nào khi chính Slash cũng không muốn trả lại cây Les Paul cho Joe. Joe kể: Slash nói thẳng rằng “Đừng kêu tôi bán cây đàn đó cho anh nữa!” Mặc dù tôi đã xin xỏ đủ kiểu, Slash vẫn nói không và từng có lúc cậu ta không nghe điện thoại của tôi vì biết kiểu gì tôi cũng đòi.

Tới lúc đó, tôi biết là mình sắp đánh mất tình bạn chỉ vì một cây đàn. Cuối cùng, tôi đành bảo: “Nghe này, tôi sẽ không hỏi cậu bán lại đàn nữa đâu. Nó là đàn của cậu. Cái chuyện này đang hủy hoại tình bạn của chúng ta, nên mọi chuyện dừng ở đây”.

Tưởng rằng Joe và cây đàn mãi mãi chia lìa từ đây, nhưng vào sinh nhật tuổi 50, anh nhận được một bất ngờ đặc biệt. “Khi bọn tôi đang chuẩn bị lên sân khấu ở một nhà hàng mà tôi và Steven làm chủ ở Nam Boston, trợ lý của tôi có gọi tôi lại và nói “Slash muốn đưa cho anh cái này”. Đó đúng là cây Les Paul ’59. Khi ấy cả phòng chớt lặng luôn. Tôi cũng không tin được. Nhưng chuyện là thế đó. Tôi và em nó được đoàn tụ rồi.”

19/02/2026

Những ngày Tony Iommi kiên nhẫn ngồi nấu chảy rồi đổ kim loại thành những cái chụp nhỏ xíu úp lên ngón tay để có thể tiếp tục bấm đần (Tony đã từng thử chuyển qua chơi đàn tay phải nhưng không thể), hay mày mò tìm cách lắp dây đàn banjo vào đàn guitar bởi vì dây đàn guitar thời đó quá nặng và dày để gã có thể nhíu dây bằng những ngón tay đeo chụp sắt đó. Thậm chí Tony còn phải hạ thấp toàn bộ dây đàn xuống từ một nửa cho đến ba nửa cung (chơi ở Eb standard, D standard, thậm chí cả Db standard) để ông có thể bấm và nhéo khi riff. Tiếng đàn guitar đục ngầu không được dự tính từ trước, bỗng nhiên trở thành âm thanh đặc trưng của Black Sabbath cũng như của Heavy Metal sau này.

Xin chúc mừng sinh nhật tới Tony Iommi (19.2.1948)!

Sinéad O’Connor: Tiếng nói cất lên trước khi thế giới sẵn sàng lắng ngheỞ tuổi mười lăm, cô cũng được nghe những điều mà...
21/01/2026

Sinéad O’Connor: Tiếng nói cất lên trước khi thế giới sẵn sàng lắng nghe

Ở tuổi mười lăm, cô cũng được nghe những điều mà bao thế hệ thiếu nữ từng được dạy: hãy nuôi tóc dài, trang điểm, trở nên mềm mỏng và biết vâng lời.

Cô đã làm ngược lại. Cô cạo trọc đầu.

Quyết định đó không phải là một tuyên ngôn thời trang. Đó là một sự khước từ.

Sinéad O’Connor sinh ra tại Dublin vào năm 1966, trong một đất nước Ireland chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Công giáo, bảo thủ cứng nhắc và không khoan thứ cho bất kỳ ai không đi theo khuôn mẫu. Tuổi thơ của cô hằn học những vết sẹo của sự lạm dụng, bất ổn và những chấn thương tâm lý mà sau này cô đã công khai chia sẻ. Ở tuổi thiếu niên, cô bị đưa vào viện tế bần Magdalene, nơi những cô gái “ngỗ ngược” bị gửi đến để rèn kỷ luật, bị che giấu và kiểm soát.

Chính tại nơi giam cầm đó, tiếng hát của cô lần đầu tiên thực sự được lắng nghe. Một nữ tu đã nhận thấy khả năng ca hát phi thường của cô và sắp xếp cho cô đi học nhạc. Âm nhạc không chỉ là lối thoát, mà còn là sợi dây cứu sinh. Sinéad sớm nhận ra rằng giọng hát của mình, cả về nghĩa đen lẫn tiếng nói đạo đức, là thứ duy nhất không ai có thể tước đoạt.

Khi bước chân vào làng nhạc vào giữa thập niên 80, giới công nghiệp nhìn thấy tài năng của cô và ngay lập tức tìm cách nhào nặn nó. Các giám đốc điều hành bảo cô phải giảm cân, mặc đồ nữ tính, để tóc dài và tạo vẻ ngoài dễ bán. Thời đại đó tôn thờ sự bóng bẩy và phục tùng.

Sinéad đáp trả bằng cách cạo trọc đầu.

Năm 1987, cô phát hành album đầu tay The Lion and the Cobra. Nó dữ dội, thô ráp và không hề có màng lọc cảm xúc, sự kết hợp giữa âm hưởng Ireland với sự mãnh liệt của dòng nhạc post-punk và những chủ đề cá nhân sâu sắc. Album đạt đĩa vàng và tuyên bố sự xuất hiện của một giọng ca không mưu cầu sự yêu thích của đám đông. Cô không diễn vai nữ tính. Cô không mài giũa những góc cạnh xù xì. Cô nói lên sự thật theo cách mình cảm nhận.

Rồi năm 1990 đến.

“Nothing Compares 2 U,” một sáng tác của Prince, đã trở thành hiện tượng toàn cầu. Thành công của bài hát gắn liền với video ca nhạc: một cảnh quay cận cảnh gương mặt Sinéad với mái đầu trọc, khuôn mặt chiếm trọn khung hình và những giọt nước mắt lăn dài khi cô hát. Không có sự xao nhãng nào khác. Chỉ có sự tổn thương trần trụi. Bài hát đứng đầu bảng xếp hạng ở nhiều quốc gia và đưa cô trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất thế giới.

Vào thời điểm đó, ngành công nghiệp kỳ vọng cô sẽ biết ơn và nghe lời.

Thay vào đó, Sinéad tiếp tục khước từ.

Cô công khai từ chối những khía cạnh của sự nổi tiếng mà cô cho là giả tạo. Cô khước từ các giải thưởng. Cô lên tiếng chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong giới giải trí. Cô chỉ trích chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo có tổ chức và những tổ chức mà cô tin rằng đang gây ra tổn hại. Mỗi lần từ chối lại khiến cô mất đi sự ủng hộ. Mỗi lần bảo vệ quan điểm lại khiến cô bị dán nhãn: khó tính, bất ổn, vô ơn.

Rồi, vào ngày 3 tháng 10 năm 1992, cô xuất hiện trên chương trình Saturday Night Live.

Cô trình diễn bài hát “War” của Bob Marley, thay đổi lời bài hát để tập trung vào vấn đề lạm dụng trẻ em. Kết thúc bài hát, cô giơ bức ảnh Giáo hoàng John Paul II lên và xé làm đôi, nói rằng: “Hãy chiến đấu với kẻ thù thực sự.”

Làn sóng phẫn nộ ập đến ngay lập tức và vô cùng khốc liệt. Nhạc của cô bị tẩy chay. Các đài phát thanh đập phá đĩa nhạc của cô. Cô bị các nhà lãnh đạo tôn giáo lên án và bị báo chí phỉ báng. Sự nghiệp của cô tại Mỹ sụp đổ gần như chỉ sau một đêm.

Điều mà nhiều người thất bại hoặc từ chối thấu hiểu chính là lý do tại sao cô làm vậy.

Sinéad đang phản đối vai trò của Giáo hội Công giáo trong việc che giấu hệ thống lạm dụng tình dục trẻ em. Sự việc này diễn ra nhiều năm trước khi các cuộc điều tra toàn cầu khiến những tội ác đó trở nên không thể chối cãi. Cô nói bằng trải nghiệm thực tế, bằng nỗi đau và niềm tin đạo đức. Cô biết cái giá phải trả. Và cô vẫn chấp nhận trả nó.

Lịch sử đã chứng minh cô đúng.

Trong những năm sau đó, Sinéad tiếp tục làm nhạc, dù phần lớn nằm ngoài dòng chảy chính thống. Cô vật lộn với sức khỏe tâm thần, mang theo những chấn thương tâm lý suốt đời và chịu đựng sự hiểu lầm của công chúng. Nhưng cô chưa bao giờ xin lỗi vì đã lên tiếng. Chưa một lần nào.

Nhiều thập kỷ sau, khi quy mô đầy đủ của việc lạm dụng trong Giáo hội không còn có thể bị phớt lờ, thế giới dần định nghĩa lại những gì cô đã làm. Những gì từng bị coi là gây sốc giờ đây trông giống như một lời tiên tri. Những gì bị gạt đi là “bất ổn” giờ đây được công nhận là lòng can đảm.

Về sau, cô cải sang đạo Hồi, lấy tên là Shuhada’ Sadaqat, và tiếp tục sống theo lương tâm thay vì sự kỳ vọng của người đời.

Cô qua đời ngày 26 tháng 7 năm 2023, ở tuổi 56.

Sau cái chết của cô, những lời tri ân tuôn trào, nhiều lời đến từ chính những tổ chức và những tiếng nói đã từng quay lưng với cô. Những lời tán dương đã đến muộn. Những tổn thương đã để lại dấu vết.

Nhưng di sản của cô thì rất rõ ràng.

Sinéad O’Connor không bị trừng phạt vì cô sai. Cô bị trừng phạt vì cô đã đi trước thời đại. Vì cô từ chối làm cho sự thật trở nên dễ nghe. Vì cô không đánh đổi sự chính trực để lấy sự chấp nhận.

Cô được bảo hãy xinh đẹp, im lặng, biết ơn và bình thường.

Thay vào đó, cô trọc đầu, ngang tàng, trung thực và không thỏa hiệp.

Và lịch sử sẽ ghi nhớ rằng cô đã nói lên sự thật trước khi thế giới sẵn sàng lắng nghe nó.

22/12/2025

Như những ban nhạc nổi tiếng nhanh, những hục hặc trong nội bộ của Bee Gees bắt đầu xuất hiện ngày một nhiều. Hai anh em sinh đôi Robin và Maurice Gibb bắt đầu cảm thấy hãng đĩa RSO ưu ái ông anh Barry Gibb của họ nhiều hơn, và những đóng góp của họ cho Bee Gees bắt đầu không được coi trọng. Barry Gibb thậm chí còn được ve vãn để đi đóng phim.

Thế rồi khi cùng nhau làm album tiếp theo của Bee Gees, album concept mang cái tên Odesssa (1969), single đầu tiên của album được Stigwood chọn là bài “First of May” của Barry Gibb. Trong khi trước đó, Robin Gibb vẫn đinh ninh “Odessa” mới là single vì rõ ràng Stigwood khen bài này hết lời. Tệ hơn, Robin còn bị bắt cắt tóc cho gọn ghẽ giống mấy người còn lại trong band.

Hết chịu nổi, Robin Gibb quyết tâm rời band. Bee Gees giờ chỉ còn lại Barry và Maurice Gibb, và cả hai hẹn nhau vào studio cuối năm đó để thu album mới. Nhưng Maurice không đến. Barry không ngờ rằng, Maurice đã lặng lẽ đưa vợ về Úc nhân dịp Giáng sinh. Maurice chỉ muốn Bee Gees là Bee Gees và đã ngán đến tận cổ màn hoạnh họe của hai ông anh. Trăm sự chỉ tại Robin gây chuyện và Barry gia trưởng. Maurice có lẽ là tội nghiệp nhất vì lúc nào cũng bị lẻ ra trong những cuộc cãi vã của hay tay kia.

Bẵng đi một thời gian, Robin và Maurice Gibb chả mấy chốc lại rủ nhau đi viết nhạc. Và thế là Bee Gees đã trở lại với cái gật đầu nặng nhọc của Barry Gibb.

Hôm nay là ngày sinh (22.12.1949) của cặp sinh đôi khác trứng, Robin và Maurice Gibb. Tuy vậy cả hai đều đã qua đời, Maurice vào năm 2003 và Robin vào năm 2012, còn lại ông anh Barry là thành viên Bee Gees duy nhất còn sống.

29/11/2025

Có một câu chuyện đau thương nhưng lại hiếm được cộng đồng fan Slipknot quốc tế kể đến xoay quanh sự ra đi của Paul Gray. Vào ngày 25/5/2010, chỉ một ngày sau cái ch*t của cựu bassist-thành viên sáng lập Slipknot, 8 thành viên còn lại đã mở ngay cuộc họp báo để chia sẻ cảm nhận, tưởng nhớ Paul. Ngoài ra còn 2 nhân vật rất đặc biệt: Brenna - vợ Paul và người ngồi giữa Corey Taylor và Joey Jordison chính là Tony Gray - em trai Paul.

12 năm sau sự ra đi của người anh trai, Tony Gray cũng đã trút hơi thở cuối cùng, vào ngày 3 tháng 10 năm 2022. Nguyên nhân được cho là bị nhồi máu cơ tim, một thứ khả năng là do di truyền, vì trước đó Paul qua đời do sử dụng morphine quá liều, khi được đưa đi khám nghiệm tuthi, bệnh tim được phát hiện là đã hình thành từ trước. Lạm dụng morphine chỉ càng khiến bệnh tim dễ phát triển mạnh.

Trở về giữa thập niên 90, Tony Gray sau khi rời khỏi công việc chuyên môn là cơ khí, anh chuyển qua quản lý Hộp đêm Safari, nơi đánh dấu show đầu tiên trong sự nghiệp của Slipknot, Tony đã cùng anh trai và ban nhạc đi lưu diễn khắp thế giới cùng nhau.

Vào thời thơ ấu của anh em nhà Gray, họ phải chịu đựng cú sốc rất lớn khi người cha Paul Anthony Gray đã rời bỏ gia đình vì tự s*t. Sau khi Paul Gray qua đời, vợ anh - Brenna cũng đã đề cập câu chuyện này, cho rằng sự suy sụp, trầm cảm và nghienngap của Paul phần nào xuất phát từ cái ch*t của ba anh, người cũng được cho là nghiepngap khi còn sống. Cựu bassist đã ra đi trước khi con gái đầu lòng của anh October kịp chào đời.

3 cha con đều đã yên nghỉ cùng nhau!

Address

10/7 Nguyễn Văn Đậu, Phường 5
Phú Nhuận
700000

Opening Hours

Monday 07:00 - 23:00
Tuesday 07:00 - 23:00
Wednesday 07:00 - 23:00
Thursday 07:00 - 23:00
Friday 07:00 - 23:00
Saturday 07:00 - 23:00
Sunday 07:00 - 23:00

Telephone

+84907769812

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when The LAMBROs posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Establishment

Send a message to The LAMBROs:

Share

Category