Montagnards Saloon

Montagnards Saloon Cuộc đời laˋ những chuyến đi
Born to ride

Bonjour
29/01/2024

Bonjour

Hát giữa mọi người không ngại ngần, bài hát nữ thần mặt trời, nữ thần mặt trời..... của tôi. . . 📍📍  Montagnards Home Fa...
30/06/2020

Hát giữa mọi người không ngại ngần,
bài hát nữ thần mặt trời, nữ thần mặt trời..... của tôi. . .

📍📍 Montagnards Home Farm
🏡 74-thôn 9A-DakLao- Dakmil- Daknong - Việt Nam
🏕🏕 Montagnards Home Farm
📩 [email protected]
🌏https://montagnardscoffeehomestay.wordpress.com
☎️ (+84)983939911 | (+84)982296090

30/05/2020
https://youtu.be/pjM1VNwSDWo
07/02/2020

https://youtu.be/pjM1VNwSDWo

✅Produced and Directed by: Paul Michael Coleman ✅Cinematography: Hoàng Hiệp ft James Ravago Tan ✅The Band: Út Lê Nam ✅Screenplay: Dương Thị Huê ✅Editor: HOAN...

Những từ Việt Nam mượn từ cách phát âm từ Pháp:1. poupée [pupe] : búp bê2. laine [lεn] : len3. faute [fot] : lỗi, lỗi lầ...
25/11/2019

Những từ Việt Nam mượn từ cách phát âm từ Pháp:

1. poupée [pupe] : búp bê
2. laine [lεn] : len
3. faute [fot] : lỗi, lỗi lầm (bóc phốt mà ta hay dùng)
4. balcon [balkɔ̃] : ban công
5. sandale [sɑ̃dal] : xăng đan
6. gant [gɑ̃] : găng (tay)
7. lancer [lɑ̃se] : bắn, phóng, giới thiệu... (lăng xê cho ai)
8. gris, grise [gʀi], [gʀiz] : bạc, xám
9. clé [kle] : chìa khóa (không phải cái cờ lê hay dùng)
10. café [kafe] : cà phê
11. cœur [kœʀ] : tim (gọi quân bài cơ vì có trái tim)
12. signal [siɲal] : xi nhan (tín hiệu) (không phải cái đèn)
13. chemise [ʃ(ə)miz] : áo sơ mi
14. beurre [bœʀ] : bơ
15. maillot [majo] : áo may ô (áo ba lỗ ngoài Bắc hay gọi)
16. court, courte [kuʀ]ˌ [kuʀt] : ngắn (hay gọi cắt tóc cua)
17. artichaut [aʀtiʃo] : cây atisô
18. coolie [ku:li] : cu li (giờ ít dùng) (chế nhạo)
19. carton [kaʀtɔ̃] : bìa cứng, thùng các tông...
20. accus [aky] : bình điện ắc quy
21. biscuit [biskɥi] : bích quy (bánh quy)
22. antenne [ɑ̃tεn] : ăng ten
23. ballet [balε] : ba lê
24. affiche [afiʃ] : áp phích (giờ ít dùng)
25. billard [bijaʀ] : bi da
26. ciment [simɑ̃] : xi măng
27. béton [betɔ̃] : bê tông
28. essence [esɑ̃s] : xăng
29. frein [fʀε̃] : cái phanh (giờ cũng ít gọi)
30. pé**le [pedal] : bàn đạp xe đạp (bê đan, giờ ít dùng)
31. guidon [gidɔ̃] : tay lái (ghi đông, giờ ít dùng)
32. compteur [kɔ̃tœʀ] : dụng cụ đo (công tơ, giờ ít dùng)
33. moteur [mɔtœʀ] : động cơ (mô tơ, hiểu là máy bơm)
34. moto [moto] : mô tô (xe máy)
35. auto [oto] : ô tô (xe bốn bánh)
36. bus [bys] : xe buýt
37. volant [vɔlɑ̃] : vô lăng
38. chambre à air [ʃɑ̃bʀ a εʀ] : xăm (ruột) xe (miền Bắc)
39. garde-boue [gaʀdəbu] : gác bùn (chắn bùn)
40. départ [depaʀ] : đề ba (bắt đầu)
41. bâton [bɑtɔ̃] : ba ton (cây gậy)
42. valise [valiz] : va li
43. chèque [ʃεk] : séc (phiếu thanh toán)
44. fromage [fʀɔmaʒ] : pho mát
45. frisé [fʀize] : phi dê (tóc xoăn), xưa hay có kiểu tóc này
46. banque [bɑ̃k] : nhà băng (ngân hàng)
47. pain [pε̃] : bánh
48. malin [malε̃] : ma lanh (láu cá, ranh mãnh)
49. corset [kɔʀsε] : coóc xê (áo nịt vú của đàn bà)
50. rail [ʀɑj] : ray (đường xe lửa)
51. Pain de mie : bánh mỳ
52. Savon : xà bông
53. Police : phú lít
54. lien [ljε̃] : liên (kết)
55. Crème: cà rem
56. Paté: pa tê
57. Manteau: áo măng tô
58. Bidon: bi đông
59. Kiosque: ki ốt
60. Mannequin: Ma nơ canh..
_____

Nguồn: Humans of vietnam

19/09/2019

DÀNH CHO NGƯỜI UỐNG RƯỢU: COGNAC LÀ GÌ ?

Tiếng Mỹ gọi là Brandy, tiếng Pháp gọi là Cognac. Cognac là một loại rượu mạnh tại Pháp, vang danh thiên hạ, như bên Tàu có rượu Ngũ gia Bì và Mai Quế Lộ. Chính rượu Mai Quế Lộ này mà tướng Quan Công chém rớt đầu Nhan Lương Văn Xú vào một mùa đông tuyết rơi miền cực Bắc nước Tàu.

Brandy là một loại rượu được cất từ rượu chát mà ra, Cognac cũng vậy, họ dùng champagne cất ra. Xứ nào cũng có Brandy, nhưng Brandy là Brandy còn Cognac là Cognac. Cognac tên một làng của Pháp chuyên môn cất chế ra rượu mạnh, tên làng nổi danh thành ra tên riêng luôn. Như ta có Bát Tràng nghĩa là đồ gốm Bát Tràng. Cognac nằm ở miền Nam nước Pháp, rộng khoảng 250 ngàn acres (Acre = mẫu Anh = 0,4 hectare = 4000m²).

Bên ngoài là biển Atlantic, còn trong thì có dòng sông Charente. Cognac chỉ là một tỉnh lỵ nhỏ nằm trong 3 tỉnh lớn: Angoumois, Saintonge và Aunis. Trong thời gian bị trị bởi La Mã, thì những tỉnh lỵ này ngoài sự làm rượu nho họ còn làm muối biển rất ngon, cung cấp cho toàn vùng Châu Âu. La Mã có tiền nhiều nhờ những công nghệ này. Riêng con sông lớn Charente là nơi ghe xuồng tấp nập mua bán, xuôi ngược Bắc Nam. Nếu không nhờ một lái buôn, người Hòa Lan gốc Đức, tên là Den Helkenwijk thì chúng ta sẽ không có loại Cognac ngon mà uống đâu. Ông lái rượu này chuyên mua rượu Pháp chở bằng ghe xuồng sang Hòa Lan, ngày kia ông tính toán thấy càng chở càng lỗ vốn, thùng tônô rượu chát quá cồng kềnh, khiêng vác tốn nhiều tiền công sức. Chẳng lẽ dẹp nghề của ông cha mình để lại? Mà rượu chát đỏ hay trắng toàn là nước là nước rất nhiều, tại sao mình không làm cách nào ít nước để dễ chuyên chở, rồi về đến bển thì pha thêm nước vào tiện lợi đôi bề. Nghĩ là làm, ông nhờ một lò rượu tìm cách chưng rượu chát dùm ông. Dĩ nhiên chủ lò nghĩ trong bụng: bộ cha này khùng sao đây? Nhưng cũng nghe lời, đem thùng rượu chát đỏ mà chưng cách thủy.

Tiếng Hòa Lan gọi là Brandewijin (nghĩa là burned-wine = đốt rượu) Thành thử ngày nay thế giới dùng danh từ Brandy thì không lấy gì làm lạ.

Đun nóng đến một nhiệt độ vừa đến 173° F (tương đương 78.3 độ C) thì rượu chát bốc thành ethyl-alcohol. Hơi nóng được đông lạnh lại thành một chất rượu mạnh, chính ông lái rượu và chủ lò cất rượu uống ly rượu đầu tiên thì té chỏng gọng, ngủ khò nguyên đêm. Thức dậy cả hai lấy làm hoan hỉ vô cùng. Nhưng muốn trở thành Brandy thì phải chưng cất thêm một lần nữa, uống vài ly rồi thì khà vào lò, lò phựt lửa thì thành công.

Còn Brandy tại California thì độ mạnh của rượu lấy ra được 85% alcohol. Tại Pháp người ta dùng loại cân rượu tên là Gay-Lussac, độ ghi là 40 độ G.L nghĩa là chứa 40 % alcohol. Còn những xứ thuộc ảnh hưởng của Anh Quốc (Great Britain) thì người ta dùng danh từ Proof, nhưng qua đến Mỹ thì Proof được hiểu theo nghĩa khác rồi. Nói thì hơi kỳ cục, bên Anh Quốc họ dùng chữ Proof nghĩa là rượu mạnh đến độ nào đó, được pha thêm chút thuốc diêm sinh (loại dùng trong thuốc súng, gốc là Sulfur) Dĩ nhiên khi pha loại thuốc súng đó vào rượu thì xin đừng uống nghen, uống vào chết ráng chịu. Mà họ tính đúng cân lượng của họ rồi bật diêm lên, hỗn hợp đó nổ cái ùm... Đó là proof của Anh Quốc đấy. Và 100 British Proof có nghĩa là chứa đến 57.1% alcohol. Còn qua Mỹ thì Proof họ nhồi lên gấp 2 lần. Vídụ như độ rượu bên Pháp người ta ghi là 40 G.L thì tại Anh Quốc người ta ghi là 70 proof British, còn qua bên Mỹ thì người ta ghi là 80 proof U.S.A. Proof hay không proof dân nhậu không cần, mà chỉ cần uống vào một cái là thấy lửa cháy rần rần trong người, thêm một miếng mồi nhậu, rồi thêm một ly nữa... thì cho dù ngày mai sa địa ngục ta cũng không sợ, phải không?

Brandy khi cất xong thì chỉ có một chất lỏng trắng trong, có vị cay vị say. Nhưng nhờ dân Cognac cất loại này trong một thùng tônô (tonneau) thì ra màu vàng nâu sẫm. Thùng tônô này chứa được khoảng 350 lít (157 gallons). Bên Pháp nhờ một loại cây đặc biệt là cây sồi mọc ở rừng Limousin Forest (hướng Bắc trên núi của vùng Cognac). Loại cây này rất cao lớn, thớ gỗ rất mịn không rỉ nước, nhiều chất tannin (chất đăng đắng của cây). Chính chất này tạo hương vị của Cognac mà không nơi nào trên thế giới làm được
Muốn dùng cây này phải lựa cây thọ đến 100 tuổi sắp lên cây mới sử dụng được, trước đó cây còn non, thì hương rượu vị cognac cũng còn non tay luôn. Khi cây Limousine Oak này hạ xuống thì phải có thợ chuyên đóng thùng tônô bắt tay vào việc mới được. Họ cưa ra từng miếng dọc dài hình chữ nhựt, chất ra ngoài sân có chút bóng mát, vì quá nắng cây sẽ nứt rạn ra. Để chừng khoảng 3 năm mưa nắng thì xài được rồi, từ đó họ mới đóng thùng tônô để bán cho lò rượu. Hãng đóng thùng fût nổi tiếng tại làng Taransaud thường mở lớp dạy học trò chuyên môn đóng thùng rượu mà làm sinh kế. Học khoảng trên 4 năm thì hạ sơn được rồi. Khi bạn ghé đến lò rượu Cognac thì đừng quên ghé đến làng Taransaud này.

Nhiều lò rượu danh tửu như Camus hay Delamain thường thích chứa rượu trong thùng tônô cũ mua lại, vì sẽ làm mùi rượu thơm hơn thùng mới toanh.
Mỗi loại Cognac làm ra cho một mùa nho, thường thường người ta chứa trong một hầm sâu, gọi là Chais. Lý do sâu dưới đất thì không khí không bị thay đổi nhiều như trên mặt đất, càng sâu càng tốt, dưới sâu thì không khí oxygen không nhiều, không làm cho rượu chua, như vậy mới tốt cho rượu.

Rồi người ta đóng số, và năm cất dưới hầm. Rồi chờ vài chục năm thì khui hầm ra bán, mỗi hầm rượu bán ra thì con cháu 3 đời ăn không hết số tiền lời đó. Cho dù thùng kín đến mấy, không một giọt nào chảy ra được, nhưng khi khui ra thì rượu đã mất từ 3 đến 4 % trọng lượng thể tích, mà chủ lò thường nhún vai gọi là phần của Thiên Thần giữ cửa "à la part des anges". Như vậy toàn tỉnh Cognac hàng năm Thiên Thần đã nhậu mất lên đến khoảng 15 triệu chai lít.

Xuống những hầm rượu sâu thấy vách tường đá có những lớp rêu đen nghịt bởi nấm fungus (khoa học gọi là: Torula compniacencis fungus). Đó là bằng chứng rượu được thiên nhiên thời gian nhúng tay vào. Khoảng 5 năm đầu tiên trong thùng tônô chất tannin của cây sồi tác dụng với chất acid của cognac rượu, rồi giảm lần lần theo thời gian. Sau 5 năm nữa thì màu vàng nhạt sẽ biến thành màu vàng hổ phách, thì vị chi rượu đã 10 tuổi rồi. Nhưng không phải để quá lâu, nếu để quá lâu thì coi chừng Thiên Thần nhậu sạch bách chỉ còn thùng không mà thôi. Nhưng tại sao chai rượu Cognac lại ghi 50 năm tuổi thọ? Là vì họ chờ đến năm thứ 10 thì họ khui thùng tônô rồi sớt ra chai cất vào chỗ khác.
ST
( Nguồn : internet).

Cố đô Phiên Ngung của Việt Nam Thành Phiên Ngung là đô thành nước Nam Việt nhà Triệu ngày xưa, nay thuộc Quảng Châu  tỉn...
18/09/2019

Cố đô Phiên Ngung của Việt Nam

Thành Phiên Ngung là đô thành nước Nam Việt nhà Triệu ngày xưa, nay thuộc Quảng Châu tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Các bạn hình dung ra,thời nhà Tần vùng Lĩnh Nam có 3 quận là Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận.

Nhâm Ngao được bổ nhiệm làm Quận úy Nam Hải.

Nam Hải được chia thành 4 huyện là Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác La và Yết Dương.

Triệu Đà được bổ nhiệm làm Huyện lệnh Long Xuyên

Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng chết. Hồ Hợi lên thay tức Tần Nhị Thế. Thừa tướng Triệu Cao giết Hồ Hợi. Tần Tử Anh giết Triệu Cao. Trong triều thì rối loạn, ở ngoài thì nhiều cuộc khởi nghĩa dấy lên.

Thời gian này Nhâm Ngao chết và quyền hành Nam Hải được giao cho Triệu Đà.

Triệu Đà từ huyện lệnh Long Xuyên đã ngoi lên quận trưởng Nam Hải và nhơn thời thế xua quân chiếm Quế Lâm và Tượng Quận.

Với 3 quận trong tay, năm 203 TCN Triệu Đà tụ hội các bộ tộc Việt thành thủ lãnh của họ và thành lập nước Nam Việt.

Nam Việt quốc theo phong tục Việt,vua ngồi xổm,bới tóc củ hành sau ót ,cung đình ,quan chức Việt rặc

Triệu Đà xưng làm Triệu Võ Đế và chọn Phiên Ngung làm kinh đô

Phiên Ngung khi xưa là quận lị của Nam Hải giờ thành Kinh Đô nước Nam Việt

Triệu Đà sau đó xóa tên Âu Lạc và chia thành hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.

Nam Việt lúc bấy giờ gồm 5 quận cương vực là Quảng Đông,Quảng Tây và Bắc Việt ngày nay

Tới đời thứ tư nhà Triệu khi vua là Ai Vương bị mẹ là Cù thị thái hậu vốn người Hán át quyền. Cù thị cùng An Quốc Thiếu Quý muốn hàng phục Hán Đế, biến nước Nam Việt thành chư hầu nhưng bị tể tướng Lữ Gia chống đối

Lữ Gia làm binh biến giết mẹ con Cù Thị lập Triệu Kiến Đức lên ngôi

Sau đó Hán Võ Đế đem quân sang xâm lược,Lữ Gia đánh không lại,Phiên Ngung thất thủ ,Nam Việt diệt vong

Nam Việt vong quốc sau 97 năm tồn tại với 5 đời vua

Ngày nay các bạn trẻ Việt Nam xa lạ với cái tên Phiên Ngung thành và Nam Việt Quốc cùng Triệu tổ Triệu Đà vì sau 1975 CS nhẹm vụ này đi

Nam Việt Quốc là quốc gia của người Việt chúng ta

Triệu Võ Đế Triệu Đà là vị hoàng đế khai sáng đầu tiên của dân tộc Việt Nam chúng ta

粤趙丁李陳之肇造我國,
與漢唐宋元而各帝一方。
Việt Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhứt phương
(平吳 大 告 文 Bình Ngô Đại Cáo Văn Nguyễn Trãi (1380-1442)

Đối đầu và ngang hàng :趙丁李陳 (Triệu Đinh Lý Trần),và 漢唐宋元 (Hán Đường Tống Nguyên)

Triệu Đà dạy cho người Việt chúng ta tinh thần dân tộc,độc lập,tự chủ ,làm hoàng đế một phương

Đất Lưỡng Quảng là đất bổn địa cũ của người Việt chúng ta

Trong thư tịch cổ Trung Hoa từng nhạo báng Nam Việt Võ Đế Triệu Đà là không biết lễ nghĩa khi ngồi xổm tiếp sứ giả nhà Hán
Cái người mà lịch sử ghi rõ ràng và có thật trên đời , cái người xưng đế đầu tiên trong lịch sử Việt , thách thức vua nhà Hán,cầm quân đánh Hán,cái người làm hoàng đế rồi nhưng vẫn giữ lễ tục theo kiểu Việt là ngồi xổm tiếp sứ Hán là Triệu Võ Đế Triệu Đà của quốc gia Nam Việt

Võ Đế xưng là " Kẻ cố lại đất Việt, ở đất Việt mấy chục năm đã có con đàn cháu đống" ,đó là vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam mà các ông vua Việt Nam sau này đều kính trọng

Nhà Nguyễn gọi Nguyễn Kim là Triệu tổ cũng từ họ Triệu của Triệu Đà.

Triệu Đà đóng đô ở Phiên Ngung là Quảng Châu bây giờ -khi xưa là nguyên dãy non sông Bách Việt .Cái triều đình rặc Việt khi có ông tể tướng 3 triều vua là Lữ Gia gốc người Thanh Hóa

Hoàng hậu Trình Thị của Triệu Đà là người con gái đất Thái Bình ,làng Đồng Xâm . Triệu Đà trước khi làm vua đã từng ở rể Thái Bình hơn 10 năm ảnh hưởng tục mẫu hệ của người Việt cổ

Sau khi Nam Việt bị nhà Hán tiêu diệt, dân tộc Việt chúng ta mất nguyên dãy đất Lưỡng Quảng tới hôm nay

Dù là cố quận nhưng vẫn giáo dục con cháu về Nam Việt
Rằng Phiên Ngung (Quảng Châu) là cố đô của Việt Nam

Lưỡng Quảng,Hồng Kông,Ma Cao,Hải Nam vẫn là đất cũ của người Việt

Đất cũ không quên

nguồn : Nguyễn Gia Việt

Một thiếu tá phi công Hoa Kỳ đứng chụp hình trên chiếc cầu treo bắc qua Sông Ea Krong Knoda tại An Lạc, còn gọi là Đức X...
11/09/2019

Một thiếu tá phi công Hoa Kỳ đứng chụp hình trên chiếc cầu treo bắc qua Sông Ea Krong Knoda tại An Lạc, còn gọi là Đức Xuyên, 1969.
Cảnh thiên nhiên ở đây rất đẹp.

Năm 1942, một cậu bé tìm thấy một con gấu con Syria mất mẹ gần Hamadan - Iran và bán lại cho trung úy Anatol Tarnowiecki...
09/09/2019

Năm 1942, một cậu bé tìm thấy một con gấu con Syria mất mẹ gần Hamadan - Iran và bán lại cho trung úy Anatol Tarnowiecki thuộc quân đội Ba Lan, viên trung úy này tặng con gấu lại cho cô Irena Bokiewicz - một người tị nạn Ba Lan, cô này tặng nó cho đại đội hậu cần pháo binh 22 thuộc sư đoàn 2 quân đội Ba Lan.

Con gấu rất dễ nuôi và đặc biệt gần gũi với thành viên đại đội 22, nó có thể uống sữa trong chai, ăn bánh quy, trái cây thậm chí là lương khô. Những người lính Ba Lan dạy nó chào kiểu nhà binh, đấu vật và ngồi trong ca bin hoặc thùng xe tải khi di chuyển, họ không coi nó là vật nuôi mà đối xử như chiến hữu, cho nó hút thuốc và thưởng bằng bia. Nó được đặt tên là Wojtek - đọc trại từ Wojciech trong tiếng Ba Lan cổ nghĩa là "chiến binh vui vẻ". Con gấu theo chân đại đội 22 trên khắp vùng Trung Đôn, từ Irag, Syria, Palestine và Ai Cập chiến đấu chống phát xít Đức.

Khi sư đoàn 2 được lịnh di chuyển sang Ý để hội quân cùng sư đoàn 8 Anh Các Lợi, đám quý tộc không cho Wojtek lên tàu vì tàu chỉ chở cán binh không chở thú hoang. Đại đội 22 chính thức cho chú gấu nhập ngũ với hàm hạ sỹ, có sổ bộ, lương bổng và chế độ như hạ sỹ quan bình thường. Không chỉ là linh thú biểu tượng cho đơn vị, Wojtek còn được dạy tải đạn - một công việc khó khăn và nặng nhọc với binh lính thông thường. Trong trận ác chiến Monte Cassino, đám sỹ quan Ăng-lê mắt tròn mắt dẹt khi chứng kiến con gấu cao gần 2m, nặng hàng trăm kí lô bê thùng đạn pháo tiếp đạn cho các khẩu đội một cách thuần thục, xung quanh súng nổ vang rền. Chỉ huy ghi nhận công lao của Wojtek nên lấy hình ảnh nó đang bê đạn pháo làm huy hiệu chánh thức của đại đội 22.

Chiến tranh kết thúc, đại đội 22 sang Tô Cách Lan làm nhiệm vụ, sau khi hoàn thành thì phía Ba Lan đề nghị đón Wojtek về nước nhưng hầu hết các thành viên đại đội phản đối vì không muốn xa người đồng đội đặc biệt. Wojyek được tái định cư ởkhu an dưỡng sở thú Edinburgh và sống an nhàn đến cuối đời trong tình yêu của các chiến hữu và người dân địa phương, nó vẫn giữ thói quen uống bia và cắn thuốc cho đến khi đoàn tụ ông bà vào năm 1963, thọ 21 tuổi - tương đương 90 tuổi ở người. Hạ sỹ gấu được tạc tượng nhiều nơi, được lấy làm biểu tượng trên huy hiệu của lực lượng pháo binh Ba Lan đến bây giờ. Có 1 thành phố nhỏ mang tên chú gấu và thậm chí được làm phim tài liệu phát trong chương trình kỷ niệm 75 năm chiến thắng phát xít.

Trong tang lễ bà Thánh Cung ( Khôn Nguyên thái hoàng thái hậu Nguyễn Hữu Thị Nhàn, vợ cả của vua Đồng Khánh ( là mẹ đích...
13/08/2019

Trong tang lễ bà Thánh Cung ( Khôn Nguyên thái hoàng thái hậu Nguyễn Hữu Thị Nhàn, vợ cả của vua Đồng Khánh ( là mẹ đích của vua Khải Định, bà nội đích của vua Bảo Đại, bà nội ruột là Khôn Nghi thái hoàng thái hậu Dương Thị Thục vợ thứ của vua Đồng Khánh )., Huế ngày 20/12/1935

Phụ Thiên Thuần Hoàng Hậu ( chữ Hán: 輔天純皇后, 22/12/1870 - 09/11/1935 ), còn được gọi là Đức Thánh Cung (德聖宮), là chính thất của Đồng Khánh hoàng đế thuộc triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Bà là đích mẫu của Khải Định hoàng đế và là bà nội trên danh nghĩa của Bảo Đại.

Bà cùng với Hựu Thiên Thuần hoàng hậu, thứ thất của Đồng Khánh, trở thành 2 vị Thái hoàng thái hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Tiểu sử:

Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu có tên húy là Nhàn (嫻), tên tự là Học Khương (學姜), xuất thân từ dòng họ Nguyễn Hữu Thị (阮有氏) ở Thanh Hóa, con gái thứ hai của Cơ Mật viện Đại thần Kinh lược sứ Bắc Kỳ Vĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Độ. Hoàng hậu từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, xinh đẹp và nhân hậu.

Khi đến tuổi cập kê, bà được tuyển vào làm Chánh thất cho Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đàng, người được Tự Đức và Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm nhận nuôi vào năm 1879 và được đưa về Chánh Mông đường (正蒙堂) dạy dỗ. Lúc đó, Ưng Đàng được gọi là Hoàng tử Chánh Mông (皇子正蒙) rồi đổi tên thành Ưng Kỷ. Năm 1882, hoàng tử Ưng Kỷ được phong làm Kiên Giang quận công (堅江郡公).

Năm 1885, Xuất Đế Hàm Nghi phát động Trận Kinh thành Huế 1885 và Phong trào Cần Vương liên tiếp chống Pháp, cuối cùng thất bại và bị tù đày. Giữa lúc đó, chính quyền Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn chọn ra một hoàng thân lên ngôi Hoàng đế Đại Nam và Kiên Giang quận công được chọn.

Ngày 19/09/1885, Kiên Giang quận công đăng cơ, tức Đồng Khánh hoàng đế. Bà được phong làm Hoàng quý phi, cho cai quản mọi việc chốn hậu cung với kim bài chiều ngang khắc chữ: "Đồng Khánh sắc tứ", chiều dọc khắc chữ "Kiêm nhiếp lục viện". Sau khi Cảnh Tông qua đời năm 1889, bà bị tước đi phong hiệu và sống ẩn dật trong cung.

Năm 1916, Phụng Hóa công Nguyễn Phúc Bửu Đảo là con của bà Hòa tần Dương Thị Thục được kế vị ngai vàng, bà được Khải Định tấn tôn làm Hoàng thái hậu. Đến năm 1923, bà được dâng tôn hiệu là Khôn Nguyên Hoàng thái hậu (坤元皇太后), sinh nhật gọi là Thánh Thọ tiết (聖壽節), vì vậy bà được gọi là Thánh Cung hoàng thái hậu (聖宮皇太后) hay đơn giản là Đức Thánh Cung (德聖宮). Khải Định khi chầu hầu, tôn gọi là Thánh Mẫu (聖母).

Năm 1933, Bảo Đại tôn phong bà làm Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu (坤元昌明太皇太后). Những năm cuối đời, bà bị liệt giường và chỉ nằm ở cung Diên Thọ do bị bệnh khớp rất nặng.

Năm 1935, Thái hoàng thái hậu qua đời, thọ 66 tuổi. Lăng của bà được gọi là Tư Minh lăng (思明陵), hay dân gian quen gọi Thánh Cung Lăng (聖宮陵), tọa lạc tại làng Dương Xuân, Hương Thủy, Thừa Thiên.

Ảnh: Người Pháp đang làm đoạn đường sắt phía nam Hải Vân. Ngay khi tấn công Đà Nẵng năm 1858, Pháp đã hiểu họ rất khó vậ...
13/08/2019

Ảnh: Người Pháp đang làm đoạn đường sắt phía nam Hải Vân.

Ngay khi tấn công Đà Nẵng năm 1858, Pháp đã hiểu họ rất khó vận hành chiến hạm mớn nước sâu vào các sông Huế. Trong khi cửa biển Thuận An cũng thường xuyên chịu bão tố, dễ bị cắt đứt trong mùa mưa bão. Việc làm đường thuận tiện vượt đèo Hải Vân trở thành bắt buộc với tướng lĩnh viễn chinh Pháp.

Ban đầu người Pháp chú ý đến những đường tắt khác với con đường cái quan qua đèo Hải Vân. Họ hi vọng tìm thấy lối đi ít hiểm trở và ngắn hơn để giảm bớt chi phí xây dựng.

Năm 1885, đích thân thiếu tướng Prudhomme, tư lệnh quân đội Pháp ở Trung kỳ, dẫn đoàn quan quân đi khảo sát qua cả đèo Hải Vân vẫn hi vọng tìm kiếm được các lối khác vào sâu hướng tây dải núi này. Viên tướng viễn chinh đã cảm nhận ngay sự khó nhọc nếu đi con đường cái quan chính thức của triều đình:
“Khỏi miếu ông Hổ thì bắt đầu leo trèo. Thật là công việc vô cùng mệt nhọc bởi vì đường bộ được phóng không hợp lý, và vì có ý đạt điểm cao bằng đường ngắn nhất nên đã sa vào cái dốc rất cheo leo. Những bậc bước là để cho người khổng lồ bước lên vì có độ cao 0,6m. Tới đỉnh đèo thật là mệt, đoàn người dừng lại nghỉ ngơi lâu trong một pháo đài bằng đá được dùng để canh gác lối đi”.
Hành trình tìm kiếm con đường mới của tướng Prudhomme càng nặng nề hơn. “Nhưng đoạn này rất cheo leo vừa mới được phanh phui, chỗ rộng nhất là 0,4m, dốc lên chổng ngược, dốc xuống dựng đứng, bị chặn lại bởi thân cây to đổ xuống nằm ngang hoặc bịt kín bởi những hòn đá phù lưu và đây chính là đường mòn của chồn, thỏ, hươu, nai. Đoàn người thật sự đang ở trong rừng rậm”.
Cuối cùng, viên tướng này vẫn ngả theo hướng cũ là chỉnh sửa lại con đường qua đèo Hải Vân.

Sau Prudhomme, nhiều sĩ quan Pháp khác tiếp tục nỗ lực tìm kiếm con đường mới lẫn nghiên cứu chỉnh sửa lại đường cái quan của người Việt để tiện lợi cho hành binh.
Để mở con đường từ Huế vào Đà Nẵng, Pháp giao nhiệm vụ cho Đại úy Besson, là một nhà quân sự và cũng là một kỹ sư tài năng, Đại úy Besson đã cùng các kỹ sư Pháp chỉ huy hàng trăm dân phu mở đường trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn.
Sau khi khai thông từ Huế vào, đặc biệt đoạn đường Hải Vân từ con lộ nhỏ đủ cho ngựa đi với nhiều hẻm vòm lá che tối um phát quang thành con đường có thể xe chạy được. Đoàn công tác cầu đường do đại úy Besson chỉ huy dừng chân tại Trạm Nam Chơn. Besson rất phấn khởi vì thấy mình sắp hoàn tất một công trình đầy khó khăn khổ ải. Viên đại úy hy vọng rằng sẽ khánh thành con đường vượt đèo này vào cuối năm 1886, và chắc chắn rằng lúc ấy tên tuổi của đại úy Besson sẽ được khắc vào vách núi bên đèo Hải Vân như một niềm kiêu hãnh...

Thế nhưng, chiều tối ngày 28/2/1886 khoảng 200 nghĩa quân Cần Vương vùng Tây - Bắc Hòa Vang do ông Hồ Học làm thủ lĩnh đã tấn công khu nhà của đại úy Besson và 7 lính Pháp, đại úy Besson bị bắt, quật ngã xuống đất và hạ sát, nghĩa quân châm lửa đốt nhà, thân thể của Besson chỉ còn lại chân tay bị thiêu cháy, người ta đã tìm thấy đầu của Đại úy Besson ở một cái hố trên bãi biển Nam Ô, những người Pháp còn lại đều bị giết sạch.
Sau thảm kịch đó, một đại úy công binh khác có tên là Nicod đã được bổ nhiệm để tiếp tục công trình mà những người đồng nghiệp của ông ta đang thực hiện dang dở, trong đó đặc biệt là trung úy thủy quân lục chiến Debay xin nghỉ phép hẳn một năm để tình nguyện nghiên cứu con đường nối Huế với Đà Nẵng và nhánh từ Quảng Nam đi Lào.
Rất nhiều hành trình đã được kể lại, nhiều ý kiến được nêu ra. Ngoài lần theo những con đường ngang lối tắt để vượt đèo Hải Vân của người An Nam, họ tìm cả những tuyến đường mới hoàn toàn mà đặc biệt là nằm sâu phía tây Hải Vân, cách xa bờ biển. Họ nghiên cứu cả về mặt cấu tạo địa chất nền đường, giải pháp thi công và bài toán chi phí...

Hai con đường qua đèo

Cuối cùng quyết định của toàn quyền Paul Doumer quan trọng nhất. Nhận nhiệm vụ từ năm 1897, ông ta đã tập trung nhiều cho việc cải thiện đường sá. Hành trình qua đèo Hải Vân được thực hiện cả hai giải pháp đường bộ lẫn đường sắt. Ấp ủ đường mới bị gác lại, Doumer tiếp tục cho chỉnh sửa con đường qua đèo Hải Vân.
Hồi ký viên toàn quyền này kể: “Cách đây vài tháng, người ta đã khởi công trở lại và dưới sự đốc thúc vội vàng nhưng không thiếu sự chỉ đạo do tôi chịu trách nhiệm, công việc sẽ có kết quả tốt một ngày gần đây.
Trước mắt người ta có thể đi ngựa hầu như suốt con đường mòn đã được nới rộng và nhiều đoạn có dáng dấp một con đường bình thường đúng nghĩa. Có những cầu tạm bằng tre tại các địa điểm mà rồi đây sẽ có cống bằng gạch, cầu bằng sắt”.
Trở ngại lớn nhất của đường cái quan cũ là nhiều dốc cao, Toàn quyền Doumer kể các kỹ sư Pháp đã nghiên cứu chỉnh lại “một lộ trình dự án trên sườn núi để tới đỉnh đèo bằng các lườn dốc tương đối êm dịu từ 10 tới 12% tối đa”...
Sau đường bộ, con đường sắt qua đèo Hải Vân cũng được khởi động từ năm 1902. Mở đầu công trình từ phía Đà Nẵng, vừa đến chân đèo Hải Vân vào tháng 9-1902 người Pháp đã phải tạm dừng lại vì máy khoan hầm mua từ Mỹ chở về bằng tàu biển bị sự cố trên hành trình.
Nhà nghiên cứu Frédéric Hulot kể lại công trình đường sắt từ Đà Nẵng qua đèo ra Huế đã thông chuyến tàu đầu tiên vào tháng 12-1906, chậm 22 tháng so với kế hoạch ban đầu.
Không như làm đường bộ qua đèo thuận lợi hơn vì phần nhiều là chỉnh sửa đường cũ của người Việt, công trình đường sắt qua đèo gặp khó khăn hơn nhiều.

Sử quán triều Nguyễn chép trong Đại Nam thực lục năm Đồng Khánh thứ hai, Đinh Hợi, 1887:
“Công trình sở ấy khó nhọc nặng nề, từ khi dời đóng đồn thứ nhất, đồn thứ hai đến nay, khí núi rất nhiều, dân phu 10 phần nhiễm bệnh đến 6-7, phần nhiều bị chết, quan Pháp ở đấy, ngày thường đánh phạt, tật bệnh càng nhiều, chuẩn cho viện thần tư bàn với viên khâm sứ, trả lời rằng việc đánh phạt đã sức cho quan Pháp, từ nay về sau, dân phu có lỗi, phải giao cho quan Nam xét xử”.

Hàng ngàn người từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa… ra làm đường sắt. Nhiều người đã chết vì kiệt sức, hay bị tai nạn khi đào đá, làm hầm thông qua đèo.
Khi chết họ không được đưa về quê chôn cất và cũng không có ai là thân nhân để lo thờ tự nên người dân làng Liên Chiểu cũ đã lập miếu thờ Hỏa Xa ngay dưới chân đèo, cạnh đường sắt.
Một số người biết người thân được thờ ở miếu đã chở đá nguyên khối từ Khánh Hòa ra xây dựng ngôi miếu khang trang. Nhưng sau năm 1975 miếu bị đập phá. Người dân đã đổi tên miếu thành Linh Sơn và tiếp tục thờ những người đã ngã xuống vì tuyến đường sắt lịch sử này.

Address

Thôn 9A, Xã Dak Lao, Huyện Dakmil, Tỉnh Dak Nông
Dak Mil
641800

Telephone

+84935056446

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Montagnards Saloon posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share