13/08/2019
Ảnh: Người Pháp đang làm đoạn đường sắt phía nam Hải Vân.
Ngay khi tấn công Đà Nẵng năm 1858, Pháp đã hiểu họ rất khó vận hành chiến hạm mớn nước sâu vào các sông Huế. Trong khi cửa biển Thuận An cũng thường xuyên chịu bão tố, dễ bị cắt đứt trong mùa mưa bão. Việc làm đường thuận tiện vượt đèo Hải Vân trở thành bắt buộc với tướng lĩnh viễn chinh Pháp.
Ban đầu người Pháp chú ý đến những đường tắt khác với con đường cái quan qua đèo Hải Vân. Họ hi vọng tìm thấy lối đi ít hiểm trở và ngắn hơn để giảm bớt chi phí xây dựng.
Năm 1885, đích thân thiếu tướng Prudhomme, tư lệnh quân đội Pháp ở Trung kỳ, dẫn đoàn quan quân đi khảo sát qua cả đèo Hải Vân vẫn hi vọng tìm kiếm được các lối khác vào sâu hướng tây dải núi này. Viên tướng viễn chinh đã cảm nhận ngay sự khó nhọc nếu đi con đường cái quan chính thức của triều đình:
“Khỏi miếu ông Hổ thì bắt đầu leo trèo. Thật là công việc vô cùng mệt nhọc bởi vì đường bộ được phóng không hợp lý, và vì có ý đạt điểm cao bằng đường ngắn nhất nên đã sa vào cái dốc rất cheo leo. Những bậc bước là để cho người khổng lồ bước lên vì có độ cao 0,6m. Tới đỉnh đèo thật là mệt, đoàn người dừng lại nghỉ ngơi lâu trong một pháo đài bằng đá được dùng để canh gác lối đi”.
Hành trình tìm kiếm con đường mới của tướng Prudhomme càng nặng nề hơn. “Nhưng đoạn này rất cheo leo vừa mới được phanh phui, chỗ rộng nhất là 0,4m, dốc lên chổng ngược, dốc xuống dựng đứng, bị chặn lại bởi thân cây to đổ xuống nằm ngang hoặc bịt kín bởi những hòn đá phù lưu và đây chính là đường mòn của chồn, thỏ, hươu, nai. Đoàn người thật sự đang ở trong rừng rậm”.
Cuối cùng, viên tướng này vẫn ngả theo hướng cũ là chỉnh sửa lại con đường qua đèo Hải Vân.
Sau Prudhomme, nhiều sĩ quan Pháp khác tiếp tục nỗ lực tìm kiếm con đường mới lẫn nghiên cứu chỉnh sửa lại đường cái quan của người Việt để tiện lợi cho hành binh.
Để mở con đường từ Huế vào Đà Nẵng, Pháp giao nhiệm vụ cho Đại úy Besson, là một nhà quân sự và cũng là một kỹ sư tài năng, Đại úy Besson đã cùng các kỹ sư Pháp chỉ huy hàng trăm dân phu mở đường trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn.
Sau khi khai thông từ Huế vào, đặc biệt đoạn đường Hải Vân từ con lộ nhỏ đủ cho ngựa đi với nhiều hẻm vòm lá che tối um phát quang thành con đường có thể xe chạy được. Đoàn công tác cầu đường do đại úy Besson chỉ huy dừng chân tại Trạm Nam Chơn. Besson rất phấn khởi vì thấy mình sắp hoàn tất một công trình đầy khó khăn khổ ải. Viên đại úy hy vọng rằng sẽ khánh thành con đường vượt đèo này vào cuối năm 1886, và chắc chắn rằng lúc ấy tên tuổi của đại úy Besson sẽ được khắc vào vách núi bên đèo Hải Vân như một niềm kiêu hãnh...
Thế nhưng, chiều tối ngày 28/2/1886 khoảng 200 nghĩa quân Cần Vương vùng Tây - Bắc Hòa Vang do ông Hồ Học làm thủ lĩnh đã tấn công khu nhà của đại úy Besson và 7 lính Pháp, đại úy Besson bị bắt, quật ngã xuống đất và hạ sát, nghĩa quân châm lửa đốt nhà, thân thể của Besson chỉ còn lại chân tay bị thiêu cháy, người ta đã tìm thấy đầu của Đại úy Besson ở một cái hố trên bãi biển Nam Ô, những người Pháp còn lại đều bị giết sạch.
Sau thảm kịch đó, một đại úy công binh khác có tên là Nicod đã được bổ nhiệm để tiếp tục công trình mà những người đồng nghiệp của ông ta đang thực hiện dang dở, trong đó đặc biệt là trung úy thủy quân lục chiến Debay xin nghỉ phép hẳn một năm để tình nguyện nghiên cứu con đường nối Huế với Đà Nẵng và nhánh từ Quảng Nam đi Lào.
Rất nhiều hành trình đã được kể lại, nhiều ý kiến được nêu ra. Ngoài lần theo những con đường ngang lối tắt để vượt đèo Hải Vân của người An Nam, họ tìm cả những tuyến đường mới hoàn toàn mà đặc biệt là nằm sâu phía tây Hải Vân, cách xa bờ biển. Họ nghiên cứu cả về mặt cấu tạo địa chất nền đường, giải pháp thi công và bài toán chi phí...
Hai con đường qua đèo
Cuối cùng quyết định của toàn quyền Paul Doumer quan trọng nhất. Nhận nhiệm vụ từ năm 1897, ông ta đã tập trung nhiều cho việc cải thiện đường sá. Hành trình qua đèo Hải Vân được thực hiện cả hai giải pháp đường bộ lẫn đường sắt. Ấp ủ đường mới bị gác lại, Doumer tiếp tục cho chỉnh sửa con đường qua đèo Hải Vân.
Hồi ký viên toàn quyền này kể: “Cách đây vài tháng, người ta đã khởi công trở lại và dưới sự đốc thúc vội vàng nhưng không thiếu sự chỉ đạo do tôi chịu trách nhiệm, công việc sẽ có kết quả tốt một ngày gần đây.
Trước mắt người ta có thể đi ngựa hầu như suốt con đường mòn đã được nới rộng và nhiều đoạn có dáng dấp một con đường bình thường đúng nghĩa. Có những cầu tạm bằng tre tại các địa điểm mà rồi đây sẽ có cống bằng gạch, cầu bằng sắt”.
Trở ngại lớn nhất của đường cái quan cũ là nhiều dốc cao, Toàn quyền Doumer kể các kỹ sư Pháp đã nghiên cứu chỉnh lại “một lộ trình dự án trên sườn núi để tới đỉnh đèo bằng các lườn dốc tương đối êm dịu từ 10 tới 12% tối đa”...
Sau đường bộ, con đường sắt qua đèo Hải Vân cũng được khởi động từ năm 1902. Mở đầu công trình từ phía Đà Nẵng, vừa đến chân đèo Hải Vân vào tháng 9-1902 người Pháp đã phải tạm dừng lại vì máy khoan hầm mua từ Mỹ chở về bằng tàu biển bị sự cố trên hành trình.
Nhà nghiên cứu Frédéric Hulot kể lại công trình đường sắt từ Đà Nẵng qua đèo ra Huế đã thông chuyến tàu đầu tiên vào tháng 12-1906, chậm 22 tháng so với kế hoạch ban đầu.
Không như làm đường bộ qua đèo thuận lợi hơn vì phần nhiều là chỉnh sửa đường cũ của người Việt, công trình đường sắt qua đèo gặp khó khăn hơn nhiều.
Sử quán triều Nguyễn chép trong Đại Nam thực lục năm Đồng Khánh thứ hai, Đinh Hợi, 1887:
“Công trình sở ấy khó nhọc nặng nề, từ khi dời đóng đồn thứ nhất, đồn thứ hai đến nay, khí núi rất nhiều, dân phu 10 phần nhiễm bệnh đến 6-7, phần nhiều bị chết, quan Pháp ở đấy, ngày thường đánh phạt, tật bệnh càng nhiều, chuẩn cho viện thần tư bàn với viên khâm sứ, trả lời rằng việc đánh phạt đã sức cho quan Pháp, từ nay về sau, dân phu có lỗi, phải giao cho quan Nam xét xử”.
Hàng ngàn người từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa… ra làm đường sắt. Nhiều người đã chết vì kiệt sức, hay bị tai nạn khi đào đá, làm hầm thông qua đèo.
Khi chết họ không được đưa về quê chôn cất và cũng không có ai là thân nhân để lo thờ tự nên người dân làng Liên Chiểu cũ đã lập miếu thờ Hỏa Xa ngay dưới chân đèo, cạnh đường sắt.
Một số người biết người thân được thờ ở miếu đã chở đá nguyên khối từ Khánh Hòa ra xây dựng ngôi miếu khang trang. Nhưng sau năm 1975 miếu bị đập phá. Người dân đã đổi tên miếu thành Linh Sơn và tiếp tục thờ những người đã ngã xuống vì tuyến đường sắt lịch sử này.