Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam

Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam Cung cấp thông tin: giá cả, tin tức thị trường, kiến thức chăn nuôi gia cầm, gia súc

Sức nước quá kinhQuốc lộ 1A Hàm thắng, Bình Thuận21h45p ngày 4/12/2025
05/12/2025

Sức nước quá kinh
Quốc lộ 1A Hàm thắng, Bình Thuận
21h45p ngày 4/12/2025

Bão số 13 gây mưa to, khiến 23 con trâu của người dân tại xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk chết la liệt bên bờ suối...
07/11/2025

Bão số 13 gây mưa to, khiến 23 con trâu của người dân tại xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk chết la liệt bên bờ suối...

Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôiTrong những năm gần đây do chăn nuôi ngày càng phát triển, môi trường càng tr...
26/09/2025

Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi
Trong những năm gần đây do chăn nuôi ngày càng phát triển, môi trường càng trở nên ô nhiễm, sự vận chuyển vật nuôi giữa các vùng, các quốc gia (không kiểm dịch hoặc kiểm dịch không đầy đủ) … dẫn đến dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.





Do đó, công tác quản lý dịch bệnh cho đàn vật nuôi trở nên rất quan trọng, quyết định tới hiệu quả chăn nuôi. Sử dụng vắc xin để chủ động phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi được xem là một trong những biện pháp hiệu quả và ít tốn kém hơn cho người chăn nuôi.



Vắc xin là chế phẩm sinh học chứa các mầm bệnh đã bị làm yếu hay làm chết đi (không còn khả năng gây bệnh). Sau khi tiêm vào cơ thể chế phẩm này mới kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại mầm bệnh (còn gọi là miễn dịch).



Mỗi loại vắc xin đều có những đặc thù riêng, hiệu quả và thời gian miễn dịch phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng vắc xin. Nếu quản lý và sử dụng đúng quy trình kỹ thuật sẽ đảm bảo thời gian miễn dịch kéo dài và an toàn, ngược lại sẽ làm giảm khả năng tạo miễn dịch của vắc xin. Do đó, khi sử dụng vắc xin người chăn nuôi cần lưu ý một số vấn đề sau:



1. Bảo quản vắc xin



- Vắc xin phải được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp: < 0 độ C (đối với vắc xin sống), từ 2 - 8 độ C (đối với vắc xin chết); nên sử dụng riêng tủ bảo quản vắc xin, vệ sinh sát trùng định kỳ tủ nhằm đảm bảo vô trùng.



- Khi vận chuyển, cần giữ vắc xin trong điều kiện râm mát, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp. Nếu vận chuyển xa nên có hộp xốp, phích đá để bảo quản, nếu gần thì bảo quản bằng túi nilông tối màu và đá giữ lạnh.



- Ghi chép việc xuất nhập kho từng loại vắc xin, số lượng, thời hạn sử dụng để sử dụng đúng hạn, tránh lãng phí.



Tủ lạnh bảo quản vắc xin



2. Sử dụng vắc xin



Khi dùng vắc xin cần phải thực hiện theo đúng những nguyên tắc sau:



- Đối tượng cần phòng bệnh



+ Thực hiện phòng bệnh hàng năm đối với những vùng có ổ dịch cũ, vùng có nhiều bệnh truyền nhiễm phát sinh theo mùa.



+ Những nơi chưa có dịch chỉ nên dùng vắc xin chết.



+ Nên phòng bệnh cho vật nuôi 15 – 20 ngày trước khi vận chuyển đi xa và sau 20 – 30 ngày trong trường hợp nhập vật nuôi từ nơi khác về.



+ Vắc xin phòng bệnh nào thì chỉ phòng được loại bệnh đó, không phòng được bệnh khác.



- Hiệu lực của vắc xin



Tình trạng sức khỏe của vật nuôi, điều kiện ngoại cảnh sẽ ảnh hưởng tới hiệu lực của vắc xin. Chỉ sử dụng vắc xin khi vật nuôi khỏe mạnh.



- Thời gian có tác dụng của vắc xin



Tùy loại vắc xin, thời gian cơ thể sẽ tạo được miễn dịch sau khi dùng vắc xin là khác nhau. Trong thời gian đầu, vật nuôi chưa có miễn dịch đầy đủ nên vẫn có thể mắc bệnh và phát bệnh.



- Liều sử dụng



Cần sử dụng liều lượng vắc xin đúng theo chỉ định của nhà sản xuất.



- Số lần dùng



Tuỳ loại vắc xin, động vật cảm nhiễm và tình hình dịch tễ mà số lần sử dụng khác nhau, có loại chỉ dùng 1 lần đã đủ miễn dịch cho con vật, một số vắc xin cần dùng nhắc lại hai hoặc nhiều lần (theo hướng dẫn sử dụng).



- Kiểm tra lọ vắc xin trước khi sử dụng



+ Thông tin trên nhãn: tên vắc xin, số lô, số liều sử dụng, ngày sản xuất, số kiểm nghiệm xuất xưởng, thời hạn sử dụng, quy cách bảo quản.



+ Những hư hỏng trong lọ vắc xin: nút chặt hay lỏng, nguyên vẹn hay bị rách, tình trạng lớp sáp phủ bên ngoài, lọ thủy tinh có bị rạn nứt không.



+ Tình trạng vắc xin trong lọ: màu sắc, kết cấu, có bị vón không, có vật lạ không, độ đồng nhất (nếu khi lắc lọ vắc xin vẫn chia thành 2 lớp là đã bị hư hỏng).



- Thao tác khi sử dụng vắc xin



+ Khử trùng các dụng cụ dùng để đựng, pha chế vắc xin bằng cách hấp hoặc luộc, sau đó rửa bằng nước sạch (nước sôi để nguội). Không được rửa bằng thuốc sát trùng.



+ Sát trùng bằng cồn 700: tay người thực hiện, vùng da được tiêm, nút cao su của lọ chứa vắc xin.



+ Trong lúc tiêm phòng cần tránh ánh nắng mặt trời.



3. Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng vắc xin



a. Đường đưa vắc xin



- Tiêm dưới da: vắc xin Newcatle, vắc xin dịch tả vịt, vắc xin tụ huyết trùng keo phèn...



- Tiêm bắp thịt: vắc xin được tiêm vào trong cơ thường được hấp thu vào trong máu nhanh hơn so với tiêm dưới da. Để tránh trào thuốc ra ngoài từ vị trí tiêm, nên kéo da qua một bên trước khi đâm kim. Gia súc thường tiêm bắp thịt ở đùi, gia cầm là sau gáy, vị trí 1/3 giáp thân; cơ cánh, cơ ức.



- Phun sương, nhỏ mắt, mũi, miệng: vắc xin Laxota, Gumboro, IB,…



- Chủng màng da: vắc xin đậu.



b. Phản ứng sau khi dùng vắc xin



- Sau khi dùng vắc xin, vật nuôi có thể bị phản ứng do: các chất phụ trợ trong vắc xin, cơ thể đang ủ bệnh... Phản ứng cục bộ tại chỗ tiêm là sưng, nóng, đau… nhưng sau một thời gian phản ứng này sẽ mất. Khi có phản ứng cục bộ cần xử lý bằng cách chườm nước nóng tại vị trí tiêm. Trường hợp nơi tiêm bị nhiễm trùng gây apxe mủ thì phải điều trị bằng kháng sinh.



- Tiêm vắc xin còn có thể gây phản ứng dị ứng, vật nuôi có biểu hiện: sốt, run rẩy, nôn mửa, thở gấp, nổi mẩn trên mặt da (thường gặp ở lợn). Nếu phản ứng nhẹ thì sau một thời gian sẽ hết, nếu phản ứng ở mức độ nặng thì vật nuôi có thể bị chết. Khi có hiện tượng dị ứng nên sử dụng các loại thuốc chống Histamin như: Dimadron, Epharin, Phenergan, Adrenalin.



c. Xử lý vắc xin thừa



Sau khi dùng vắc xin nhược độc cho vật nuôi, tất cả vắc xin thừa cần tập trung lại và tiêu hủy (dùng nhiệt hoặc hóa chất), các dụng cụ tiêm hoặc nhỏ vắc xin phải rửa sạch và sát trùng ngay.



d. Sổ ghi chép



Phải có sổ theo dõi: ghi chép đầy đủ ngày dùng, tên, số lô, trạng thái và hạn sử dụng của vắc xin; tình trạng sức khoẻ của vật nuôi trước và sau khi sử dụng vắc xin.



TS Nguyễn Thị Liên Hương - TTKNQG

(Theo Thông tin KNVN)

Bàn về đạm: Làm sao để động vật hấp thu tối đa? (08/08/2025)Khi cầm trên tay một bao thức ăn chăn nuôi, thông số đầu tiê...
11/08/2025

Bàn về đạm: Làm sao để động vật hấp thu tối đa? (08/08/2025)

Khi cầm trên tay một bao thức ăn chăn nuôi, thông số đầu tiên mà nhiều người quan tâm là gì? Chắc chắn đó là hàm lượng đạm thô (Crude Protein – CP). Một cách trực giác, chúng ta tin rằng đạm càng cao, vật nuôi càng nhanh lớn. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn. Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao hai loại cám có cùng mức đạm 20% lại cho kết quả tăng trưởng trên heo và gà khác nhau một trời một vực? Hay tại sao vật nuôi ăn vào có vẻ nhiều nhưng phân thải ra vẫn còn nguyên, tốc độ lớn lại không như kỳ vọng?



Câu trả lời không nằm ở con số “đạm thô” ghi trên bao bì, mà ở một khái niệm sâu hơn, mang tính quyết định đến hiệu quả chăn nuôi: khả năng tiêu hóa của protein. Vấn đề không phải là vật nuôi ăn bao nhiêu đạm, mà là cơ thể chúng hấp thu và sử dụng được bao nhiêu từ lượng đạm đó.

Vượt Qua Con Số Đạm Thô: Hiểu Đúng Về Khả Năng Tiêu Hóa



Đạm thô là một chỉ số đo lường tổng lượng nitơ trong thức ăn, sau đó nhân với hệ số 6.25. Nó không phân biệt được nguồn gốc và chất lượng của nitơ đó. Giống như việc bạn có một kho nguyên liệu lớn nhưng chỉ một phần nhỏ trong đó thực sự có thể dùng để xây nhà. Đối với heo và gia cầm, “ngôi nhà” chính là cơ bắp, mô và các enzyme thiết yếu cho sự sống.



Trong khoa học dinh dưỡng hiện đại, các chuyên gia không còn chỉ dựa vào đạm thô. Thay vào đó, họ sử dụng một thước đo chính xác hơn nhiều: Khả năng tiêu hóa hồi tràng biểu kiến được chuẩn hóa của axit amin (Standardized Ileal Digestibility – SID). Hồi tràng là phần cuối của ruột non, nơi hầu hết quá trình hấp thu axit amin (những viên gạch xây nên protein) diễn ra. SID không chỉ đo lượng axit amin được hấp thu tại đây mà còn hiệu chỉnh cho những tổn thất protein nội sinh (protein do chính cơ thể vật nuôi bài tiết vào đường ruột). Điều này cho chúng ta một bức tranh chân thực nhất về giá trị dinh dưỡng mà vật nuôi thực sự nhận được từ một nguồn nguyên liệu (Stein et al., 2007).



Một loại thức ăn có chỉ số SID cao nghĩa là các axit amin trong đó dễ dàng được phá vỡ, hấp thu vào máu và đi đến nơi cần thiết để tổng hợp protein, giúp vật nuôi tăng trưởng hiệu quả. Ngược lại, đạm có SID thấp sẽ đi qua đường ruột mà không được hấp thu, cuối cùng bị thải ra ngoài qua phân, gây lãng phí chi phí và ô nhiễm môi trường.



Đây là nền tảng của hầu hết các công thức thức ăn hiện nay.



Thường có khả năng tiêu hóa cao hơn và phổ axit amin tốt hơn, nhưng chi phí cũng là một rào cản.



Sự Khác Biệt Giữa Heo Và Gia Cầm



Mặc dù cả hai đều là động vật dạ dày đơn, hệ tiêu hóa của heo và gia cầm có những khác biệt quan trọng, ảnh hưởng đến cách chúng xử lý các nguồn đạm khác nhau.


Gia cầm: Có đường ruột ngắn hơn và thời gian lưu thức ăn nhanh hơn. Dạ dày tuyến (proventriculus) và dạ dày cơ (mề, gizzard) hoạt động hiệu quả để nghiền nhỏ và bắt đầu quá trình tiêu hóa hóa học. Gia cầm thường có khả năng tiêu hóa protein từ các loại ngũ cốc tốt hơn heo (Chen, 2018). Tuy nhiên, chúng nhạy cảm hơn với một số loại chất xơ và yếu tố kháng dinh dưỡng nhất định.
Heo: Có đường ruột dài hơn và thời gian tiêu hóa chậm hơn. Dạ dày của heo có môi trường axit mạnh, giúp tiêu hóa protein hiệu quả. Heo, đặc biệt là heo con, rất nhạy cảm với các yếu tố kháng dinh dưỡng và protein gây dị ứng có trong một số nguồn đạm thực vật. Do đó, việc sử dụng các nguồn đạm dễ tiêu hóa là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn đầu đời.


Tối Ưu Hóa Khả Năng Tiêu Hóa: Chìa Khóa Nâng Cao Lợi Nhuận



Hiểu rõ về khả năng tiêu hóa chỉ là bước đầu tiên. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để cải thiện nó. Ngày nay, ngành dinh dưỡng động vật đã có những giải pháp đột phá để “mở khóa” tiềm năng dinh dưỡng từ các nguyên liệu.



Giải pháp hàng đầu là sử dụng enzyme tiêu hóa (digestive enzymes) bổ sung vào thức ăn. Đây không phải là thuốc, mà là các protein sinh học giúp phá vỡ các hợp chất phức tạp mà cơ thể vật nuôi khó có thể tự xử lý.



Enzyme Protease (EcoProtease): Giúp phân cắt các phân tử protein lớn thành các peptide và axit amin nhỏ hơn, dễ hấp thu hơn. Điều này đặc biệt hữu ích khi sử dụng các nguồn đạm có khả năng tiêu hóa trung bình, giúp vật nuôi khai thác được nhiều dinh dưỡng hơn.
Enzyme Phytase (EcoPhytase): Là một công cụ không thể thiếu. Nó phá vỡ liên kết của axit phytic, giải phóng phốt pho, protein và các khoáng chất vi lượng bị “khóa” lại. Việc này không chỉ tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn mà còn giảm lượng phốt pho thải ra môi trường.
Enzyme Carbohydrase (như EcoXylanase, AmyCare): Các enzyme này phá vỡ các loại carbohydrate phi tinh bột (chất xơ) trong thành tế bào thực vật. Bằng cách phá vỡ “bức tường” này, chúng giúp giải phóng các protein và tinh bột bị mắc kẹt bên trong, làm tăng khả năng tiêu hóa chung của khẩu phần.


Bên cạnh enzyme, các công nghệ chế biến như lên men hay thủy phân cũng đang được áp dụng. Quá trình này sử dụng vi sinh vật hoặc enzyme để “tiêu hóa trước” protein, biến chúng thành các peptide nhỏ có hoạt tính sinh học cao và cực kỳ dễ hấp thu. Các sản phẩm đạm lên men hoặc đạm thủy phân là lựa chọn lý tưởng cho vật nuôi non hoặc trong giai đoạn bị stress, giúp chúng vượt qua giai đoạn khó khăn và phát triển tối ưu.



Kết luận



Việc lựa chọn nguồn đạm không chỉ đơn thuần là nhìn vào hàm lượng protein thô. Một chiến lược dinh dưỡng thông minh đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về khả năng tiêu hóa của từng loại nguyên liệu đối với từng loài vật nuôi và từng giai đoạn phát triển. Thay vì chỉ hỏi “Đạm bao nhiêu phần trăm?”, câu hỏi đúng phải là “Bao nhiêu phần trăm đạm đó thực sự được vật nuôi hấp thu?”. Bằng cách tập trung vào khả năng tiêu hóa và áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến như enzyme và protein đã qua xử lý, người chăn nuôi có thể tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện sức khỏe vật nuôi và đạt được lợi nhuận bền vững.



Ecovet Team

Nguồn: Ecovet
https://nhachannuoi.vn/ban-ve-dam-lam-sao-de-dong-vat-hap-thu-toi-da/

Đông Nam bộ: Giá trứng gà tăng cao (11/08/2025) Sau khi xuống thấp trong quý 2-2025, giá trứng gà tại các trại trứng quy...
11/08/2025

Đông Nam bộ: Giá trứng gà tăng cao (11/08/2025)
Sau khi xuống thấp trong quý 2-2025, giá trứng gà tại các trại trứng quy mô nhỏ và vừa ở vùng Đông Nam bộ hiện tăng đáng kể.



Trong nửa tháng qua, người chăn nuôi gia cầm tại vùng Đông Nam bộ phấn khởi vì giá trứng gà đã hồi phục mạnh. Nhiều trang trại chăn nuôi gà tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai… ghi nhận giá bán buôn từ 2.200 – 3.000 đồng/quả.



Cụ thể, theo ông Nguyễn Lê Vũ, chủ một trại gà trứng tại xã Phước Thạnh (tỉnh Tây Ninh), giá trứng bán buôn tại trại tăng mạnh. Giá trứng gà trắng và trứng gà đỏ không chênh lệch nhiều, đạt 2.700 – 2.800 đồng/quả. Trung bình trại trứng gà của ông bán được 15.000 quả/ngày, lãi khoảng 1.000 đồng/quả.



Đây là niềm vui lớn của người chăn nuôi gia cầm, khi trong quý 2 năm nay, có thời điểm giá trứng gà chỉ còn hơn 1.000 đồng/quả, khiến nhiều trại thua lỗ nặng, có người phải chuyển sang hướng khác đầu tư.



Khảo sát của phóng viên Báo SGGP trên thị trường ngày 9-8 cho thấy, giá tại các chợ truyền thống ở TPHCM dao động từ 3.800 – 4.000 đồng/quả trứng gà đồi, 3.200 – 3.500 đồng/quả trứng gà ta. Trứng gà công nghiệp 3.300 đồng/quả. Các loại trứng này tăng từ 1.000 – 1.500 đồng/quả so với hồi tháng 7 vừa qua.



Tiểu thương xác nhận, giá trứng hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, thậm chí còn cao hơn cả thời điểm dịch Covid-19.



Còn tại các siêu thị Winmart, mặt hàng trứng gà được niêm yết giá mới. Đơn cử, trứng gà ta quê giỏ 10 quả giá 55.500 đồng/giỏ (áp dụng từ đầu tháng 8), trứng gà Omega3 Dabaco giá 57.600 đồng/hộp 10 quả (áp dụng từ 1-8), trứng gà DHA giá 59.400 đồng/hộp 10 quả (áp dụng từ 1-8).



Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam chia sẻ, giá trứng gia cầm đã tăng dần từ đầu tháng 7, có thời điểm đạt 2.800 – 2.900 đồng/quả tại trại chăn nuôi.



Ngoài nguyên nhân hàng năm, đây là thời điểm giá trứng tăng nhẹ do nhu cầu làm bánh trung thu tăng cao; theo ông Sơn, còn vì người tiêu dùng trong nước đã lấy lại niềm tin sau khi các thông tin về “trứng giả” được làm sáng tỏ, tức không có thật.



Một yếu tố khác, sau một thời gian dài giá trứng thấp (6-7 tháng), nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã phải giải phóng đàn gà, làm giảm nguồn cung trên thị trường.



Ông Sơn nhận định thêm, hiện dịch tả heo châu Phi đang bùng phát khiến người tiêu dùng chuyển sang tiêu thụ thịt và trứng gia cầm, thủy sản, góp phần thúc đẩy giá trứng gà tăng lên.

Sản xuất trứng gà tại Công ty CP thực phẩm Vĩnh Thành Đạt (TPHCM)

Ngoài nguyên nhân hàng năm, đây là thời điểm giá trứng tăng nhẹ do nhu cầu làm bánh trung thu tăng cao; theo ông Sơn, còn vì người tiêu dùng trong nước đã lấy lại niềm tin sau khi các thông tin về “trứng giả” được làm sáng tỏ, tức không có thật.



Một yếu tố khác, sau một thời gian dài giá trứng thấMột quầy bán trứng gia cầm tại chợ An Nhơn (TPHCM)
Giá trứng tăng là cơ hội cho người chăn nuôi gia cầm. Theo ông Sơn, một số hộ nông dân bắt đầu tái đàn, tuy nhiên, nếu tái đàn không kiểm soát sẽ dễ lặp lại câu chuyện cung vượt cầu, giá trứng lại rớt xuống.



Vì vậy, ông Sơn khuyến cáo, người chăn nuôi cần hết sức thận trọng, không nên tăng đàn ồ ạt vì giá trứng sẽ không ổn định mãi mãi, có thể tụt giảm xuống sau 5-6 tháng nữa. Nếu giá rớt xuống dưới 2.000 đồng/quả, người chăn nuôi sẽ lại thua lỗ.



ĐỨC TRUNG

Nguồn: Báo Nông nghiệp & MT

https://nhachannuoi.vn/dong-nam-bo-gia-trung-ga-tang-cao/

Bệnh viện cầu trùng ở gàBệnh cầu trùng ở gà là bệnh hầu như đàn gà nào cũng mắc bệnh phải. Căn phòng bệnh là điều dưỡng ...
12/06/2025

Bệnh viện cầu trùng ở gà
Bệnh cầu trùng ở gà là bệnh hầu như đàn gà nào cũng mắc bệnh phải. Căn phòng bệnh là điều dưỡng trang trại nào cũng muốn, nhưng bên cạnh phòng bệnh có khả năng lây nhiễm cao thì các chủ trang trại phải có kiến ​​thức để giảm thiểu tổn thương căn bệnh này gây ra. Cùng tìm hiểu về cách phòng và bệnh qua bài viết:

1, Nguyên nhân

Là bệnh ký sinh lây nhiễm virut, là loài ký sinh trùng đơn bào gây ra. Có nhiều loài cầu trùng bệnh cho gia cầm, tuy nhiên tương tự như cầu nguy hiểm cho gà là Eimeria , chủ yếu ở 2 loài: Eimeria tenella (ký sinh ở manh tràng – cọ già) và Eimeria necatrix (ký sinh trùng ở cọ non).

2, Đường lây truyền

Bệnh truyền lan chủ yếu qua đường tiêu hóa do gà ăn phải nang của cầu trùng có trong công thức ăn, nước uống được nhiễm mầm bệnh. Gay rối loạn tiêu hóa, Expense thương tế tế bào thượng bì, làm cho gà không hấp thụ được dinh dưỡng, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, giảm hiệu quả chuyển hóa hóa thức ăn, giảm tăng trọng, gà mắc bệnh này bình thường mầm non, chậm lớn, suy yếu có chết (tỷ lệ chết 20 – 30%). Gà bệnh sức đề kháng giảm là điều kiện thuận lợi để phát sinh dịch bệnh, bệnh ra ở mọi thứ lân cận, tuy nhiên gà từ 2 – 8 tuần tuổi hay mắc nhất và ở tất cả các hình thức thư giãn (nuôi công nghiệp, bán công nghiệp có nguy cơ cơ cao nhất).

3, Triệu chứng

Thể cấp tính: Ủ, gần ăn hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, lúc đầu đi phân có bọt màu vàng hoặc hơi trắng, phân có màu sắc đỏ (sau phân có máu, gà đi lại khó khăn, sã cánh, xù lông, chân cảnh lại, giật và chết sau khi có biểu hiện co giật.

Thể mãn tính: Bệnh tiến triển chậm hơn như gầy,xù lông, thân mật ăn, chân đi như thiết bị, tiêu thất thường… Ở đây gà là vật mang mầm bệnh (Thường xuyên thoáng dưỡng dưỡng ra ngoài môi trường), gà thoải mái bệnh thường giảm cầu…

4, Bệnh tích

Khi Bạch khám gà thiết bị bệnh chủ yếu tìm thấy tổn thương ở lòng. Nếu do ký sinh ở man tràng – tràng già thì thấy 2 man tràng trương và xuất huyết. Mổ manh tràng ra bên trong có sản xuất huyết tấm và đầy máu. Nếu gà bị bệnh trùng cầu nặng thì 2 manh tràng xuất huyết, từng mảng đen. Trong trường hợp gà mắc bệnh cầu trùng ký sinh ở cọ non thấy cọ non phi mã đến từng đoạn khác thường, ván trượt tài khoản đến mức dễ đứt, trong ván chứa chất bạch có lợn cợn đậu đậu rất thảm. Bề mặt niêm mạc bạch tuộc có nhiều điểm trắng đỏ. If gà bị bệnh nặng thường được phân tách bằng máu tươi.

5, Phòng bệnh

Là giải pháp hiệu quả và kinh tế nhất. Trước hết, cần thực hiện tốt việc bảo vệ sức khỏe phòng bệnh. Trại phải thông thoáng không lạnh hoặc quá nóng, nền chuồng phải có chuồng chuồng hút ẩm, luôn khô thoáng, thường xuyên vệ sinh, thoáng khí, thoáng khí sạch sẽ; thức ăn, nước uống đảm bảo vệ sinh thú y tránh vi khuẩn mầm bệnh nền chuồng; Sau mỗi đợt chạy phải quét lên vệ sinh, ủ phân gà với vôi bột để diệt mầm bệnh trước khi sử dụng. Nếu nuôi gà thảnh thơi, cần lưu ý bảo vệ khu vực chăn thả thoải mái, có thể rải một lớp cát trên sân.

Định kỳ phun khử trùng tiêu độc chuồng trại trại chăn nuôi bằng một trong các loại hóa chất sau: Han-IODINE, BENKOCID, BIO-IODINE…

Phòng bệnh bằng vắc xin và thuốc: Sử dụng vắc xin nhược độc phòng bệnh cầu trùng đa giá ở gà. Sau 14 ngày, gà bắt đầu sản xuất miễn dịch, có khả năng miễn dịch kéo dài đến thời điểm gà xuất chuồng. Ðể sử dụng vắc xin, người chăn nuôi có thể hòa vào nước hoặc trộn chung với thức ăn.

Thường xuyên bổ sung vào thức ăn, nước uống các loại B-Complex, các chất điện giải để tăng sức đề kháng của gà.

6, Trị bệnh

Bệnh cầu trùng do ký sinh trùng gây ra nên có thể sử dụng kháng sinh để điều trị, một số kháng sinh đang cho hiệu quả điều trị cao như: Toltrazuzin, Amprodium, Mono sunfadiazin…

Cùng đó, cần kết hợp chăm sóc nuôi dưỡng tốt và bổ sung chất điện giải, Vitamin K, ADE B.Complex để tăng cường sức đề kháng, mau hồi phục bệnh.

Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
channuoivietnam.com

Lợi ích và thách thức của urê cấp thức ăn chăn nuôi.Thành phần này, một dạng nitơ cô đặc, có những ưu điểm và thách thức...
31/10/2024

Lợi ích và thách thức của urê cấp thức ăn chăn nuôi.
Thành phần này, một dạng nitơ cô đặc, có những ưu điểm và thách thức tiềm ẩn khi bổ sung vào thức ăn chăn nuôi.

Ảnh minh họa



Urê cấp thức ăn chăn nuôi, một dạng nitơ cô đặc, là một thành phần được sử dụng rộng rãi trong thức ăn chăn nuôi. Nó mang lại một số lợi ích, đặc biệt là trong dinh dưỡng của động vật nhai lại, nhưng việc đưa nó vào đi kèm với những lợi thế và thách thức tiềm ẩn. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá những lợi ích và vấn đề liên quan đến việc sử dụng urê cấp thức ăn chăn nuôi trong thức ăn chăn nuôi.



Lợi ích của urê cấp thức ăn chăn nuôi



Nguồn nitơ tiết kiệm chi phí. Urê cấp thức ăn chăn nuôi đóng vai trò là nguồn thay thế tiết kiệm chi phí cho các nguồn protein truyền thống. Nó cung cấp nguồn nitơ cô đặc và giá cả phải chăng , giúp đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của động vật mà không phải tốn kém chi phí liên quan đến nguyên liệu thô giàu protein, đắt tiền.



Tăng cường tổng hợp protein vi khuẩn dạ cỏ. Động vật nhai lại, chẳng hạn như gia súc và cừu, có hệ tiêu hóa độc đáo liên quan đến quá trình lên men vi khuẩn trong dạ cỏ. Urê là tiền chất thiết yếu cho quá trình tổng hợp protein vi khuẩn, thúc đẩy sự phát triển của các vi sinh vật có lợi. Protein vi khuẩn này sau đó đóng vai trò là nguồn axit amin có giá trị cho động vật. Bằng cách nuôi các vi khuẩn dạ cỏ, có thể sử dụng urê giá rẻ để đổi lấy protein có thể chuyển hóa hiệu quả cao với chi phí tiết kiệm đáng kể.



Cải thiện hiệu quả thức ăn. Việc bổ sung urê cấp thức ăn vào chế độ ăn của động vật nhai lại có thể tăng cường hiệu quả thức ăn. Bằng cách bổ sung nitơ, thường thiếu hụt do bản chất đắt tiền của một số nguồn protein, quần thể vi khuẩn trong dạ cỏ có thể phân hủy hiệu quả các chất xơ, cải thiện quá trình tiêu hóa thức ăn giàu chất xơ và sử dụng năng lượng và chất dinh dưỡng nói chung.



Giảm sự phụ thuộc vào các nguồn protein chất lượng cao. Việc kết hợp urê cho phép nông dân, nhà máy thức ăn chăn nuôi và các nước nhập khẩu giảm sự phụ thuộc vào các nguyên liệu thô giàu protein đắt tiền. Điều này có thể đặc biệt có lợi ở những khu vực mà nguồn protein chất lượng cao khan hiếm hoặc đắt đỏ.



Chế độ ăn dễ tùy chỉnh. Thức ăn cho động vật nhai lại có thể được điều chỉnh chính xác hơn bằng cách kết hợp urê cấp thức ăn. Tính linh hoạt này cho phép các chuyên gia dinh dưỡng xây dựng chế độ ăn tiết kiệm chi phí phù hợp với nhu cầu cụ thể của động vật ở các giai đoạn tăng trưởng hoặc sản xuất khác nhau.



Những thách thức và cân nhắc



Rủi ro độc tính. Một trong những thách thức chính, nếu không muốn nói là lớn nhất, liên quan đến urê cấp thức ăn là rủi ro độc tính nếu không được quản lý đúng cách. Urê thường được chuyển đổi thành amoniac trong dạ cỏ trước khi được chuyển đổi thành protein vi khuẩn. Tuy nhiên, nồng độ amoniac quá cao có thể gây hại cho động vật. Do đó, việc theo dõi cẩn thận nồng độ bao gồm và thực hành quản lý phù hợp là điều cần thiết để ngăn ngừa độc tính.



Cân bằng chế độ ăn. Theo những điều trên, rõ ràng là việc xây dựng chế độ ăn với urê cấp thức ăn đòi hỏi phải cân nhắc cẩn thận về sự cân bằng dinh dưỡng tổng thể. Trong khi urê cung cấp nguồn nitơ cô đặc, các chất dinh dưỡng thiết yếu khác và năng lượng phải được giải quyết thỏa đáng để ngăn ngừa mất cân bằng dinh dưỡng cũng có thể có khía cạnh giải phóng theo thời gian liên quan đến chúng.



Thời kỳ thích nghi. Động vật nhai lại cần thời kỳ thích nghi dài khi thức ăn của chúng thay đổi thành phần. Điều này đặc biệt đúng khi urê được đưa vào. Việc đưa vào dần dần cho phép vi khuẩn dạ cỏ thích nghi với nguồn nitơ khác nhau, giảm thiểu nguy cơ ngộ độc amoniac.



Kiểm soát chất lượng. Các biện pháp kiểm soát chất lượng là rất quan trọng khi sử dụng urê cấp thức ăn chăn nuôi. Đảm bảo độ tinh khiết và độ đồng nhất của sản phẩm là điều cần thiết để ngăn ngừa ô nhiễm và đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng chính xác trong thức ăn chăn nuôi. Đây là lý do tại sao urê được sử dụng làm phân bón không bao giờ được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi.



Urê cấp thức ăn chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật hiện đại, cung cấp nguồn bổ sung nitơ hiệu quả về mặt chi phí và cải thiện hiệu quả thức ăn ở động vật nhai lại. Tuy nhiên, việc đưa nó vào đòi hỏi phải cân nhắc cẩn thận những thách thức tiềm ẩn, chẳng hạn như rủi ro độc tính và nhu cầu về chế độ ăn cân bằng. Với sự giám sát dinh dưỡng phù hợp và tuân thủ các hướng dẫn được khuyến nghị, urê cấp thức ăn chăn nuôi có thể là một công cụ có giá trị để tối ưu hóa chế độ ăn của động vật nhai lại, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân.



T.T (theo feedstrategy)

Nguồn: mard.gov.vn

https://nhachannuoi.vn/loi-ich-va-thach-thuc-cua-ure-cap-thuc-an-chan-nuoi/

Nghiên cứu cho thấy cúm H5N1 ở bò có thể lây lan qua đường vắt sữaKết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sữa và quy trình vắt sữ...
31/10/2024

Nghiên cứu cho thấy cúm H5N1 ở bò có thể lây lan qua đường vắt sữa

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sữa và quy trình vắt sữa, chứ không phải đường hô hấp, có khả năng là con đường chính lây truyền H5N1 giữa gia súc.

Một nhà nghiên cứu của Đại học bang Kansas đã công bố những phát hiện liên hệ giữa hoạt động vắt sữa với việc lây truyền vi-rút cúm H5N1 ở bò, loại vi-rút ảnh hưởng đến bò sữa và được phát hiện lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm 2024.



Juergen Richt là tác giả chính của bài báo “Động lực của H5N1 biến chủng clade 2.3.4.4b trong việc lây nhiễm thực nghiệm ở bê và bò”, được xuất bản ngày 25 tháng 9 trên tạp chí Nature. Richt là giáo sư danh dự của hội đồng quản trị, giáo sư danh dự của trường đại học về y học chẩn đoán và bệnh lý học, và là Giám đốc Trung tâm Xuất sắc chuyên nghiên cứu các bệnh trên cơ thể động vật (CEEZAD) của Trường Cao đẳng Y khoa Thú y.



Cúm gia cầm H5N1 độc lực cao đã ảnh hưởng đến hơn 200 trang trại chăn nuôi bò sữa ở 14 tiểu bang. Thiết bị vắt sữa và hoạt động của con người bị nghi ngờ có liên quan đến việc lây truyền, nhưng vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về phương thức lây truyền.



Trong một nỗ lực hợp tác, các nhóm nghiên cứu do Richt và Martin Beer từ Viện Friedrich Loeffler ở Đức dẫn đầu đã thử nghiệm lây nhiễm cả bê và bò đang cho con bú bằng vi-rút H5N1 biến chủng clade 2.3.4.4b, chủng vi-rút đang lưu hành ở gia súc tại Hoa Kỳ, để hiểu rõ hơn về các phương thức lây truyền có thể xảy ra. Họ đã so sánh khả năng mắc bệnh và lây truyền ở 9 con bê bị nhiễm bệnh do tiêm chủng qua đường miệng và mũi và ba con bò đang cho con bú thông qua tiêm chủng tuyến vú. Ngoài ra, tuyến vú của ba con bò sữa khác đã được tiêm chủng bằng H5N1 euDG, chủng cúm gia cầm clade 2.3.4.4b đang lưu hành ở Châu Âu.



Nhiễm trùng ở bê dẫn đến bệnh lâm sàng nhẹ, với sự nhân lên của vi-rút ở mức trung bình và không lây truyền cho bê được nuôi chung. Ngược lại, những con bò sữa bị nhiễm trùng tuyến vú nghiêm trọng, đặc trưng bởi sốt, viêm vú và giảm đột ngột sản lượng sữa. Người ta quan sát thấy mức độ vi-rút trong sữa tăng mạnh, nhưng không có bằng chứng về nhiễm trùng toàn thân hoặc vi-rút thải ra qua mũi. Những phát hiện này chỉ ra rằng sữa và quy trình vắt sữa, chứ không phải lây truyền qua đường hô hấp, là những con đường chính có khả năng lây truyền H5N1 giữa các loài gia súc.



“Hiện nay, có gần 10 triệu con bò sữa ở Hoa Kỳ. Chúng ta cần phải nghiên cứu cách thức lây truyền căn bệnh mới này ở bò sữa”, Richt cho biết. “Với thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với ngành chăn nuôi gia súc và rủi ro đối với sức khỏe con người do vi-rút H5N1 ở bò gây ra, nghiên cứu này cho thấy việc thiết lập các quy trình vắt sữa an toàn, hợp vệ sinh là chủ đề đáng quan tâm trong ngành công nghiệp sữa của Hoa Kỳ”.



Nghiên cứu này được tài trợ một phần bởi Quỹ chuyển đổi cơ sở phòng thủ nông nghiệp và sinh học quốc gia của tiểu bang Kansas, và nghiên cứu trên động vật được tiến hành tại Viện nghiên cứu An ninh sinh học của K-State và Viện Friedrich-Loeffler ở Đức.



“Khả năng của Tiến sĩ Richt trong việc điều phối một sự hợp tác quốc tế để cung cấp câu trả lời về sự lây truyền của vi-rút trong vòng vài tháng sau khi phát hiện ra căn bệnh mới là phi thường”, Bonnie Rush, trưởng khoa gia đình Hodes của trường thú y, cho biết. “Tương tự như COVID-19, ấn phẩm Nature này là một ví dụ điển hình về chuyên môn của nhóm nghiên cứu này trong việc nhanh chóng xoay chuyển nguồn lực và cung cấp dữ liệu có liên quan để ứng phó với một căn bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người mới nổi”.



T.H (Theo feedstrategy)

Nguồn: mard.gov.vn
https://nhachannuoi.vn/nghien-cuu-cho-thay-cum-h5n1-o-bo-co-the-lay-lan-qua-duong-vat-sua/

Ảnh hưởng các thành phần protein trong sinh trưởng vịt bầu Sín Chéng nuôi thịtNghiên cứu được tiến hành trên 450 vịt bầu...
12/10/2024

Ảnh hưởng các thành phần protein trong sinh trưởng vịt bầu Sín Chéng nuôi thịt

Nghiên cứu được tiến hành trên 450 vịt bầu Sín Chéng từ 1 ngày tuổi đến 12 tuần tuổi. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tác động của các loại protein khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh học hợp lý từ đó xác định mức độ protein phù hợp trong khẩu phần ăn của vịt bầu Sín Chéng nuôi thịt.

Vị trí được bố trí thành 3 lô với các loại protein khác nhau trong khẩu phần ăn, tương ứng với 3 giai đoạn tuổi (0-3 tuần tuổi, 4-7 tuần tuổi, 8-12 tuần tuổi) lần như: 21- 19-18,00% (Lô ĐC); 19-17- 16,00% (Lô TN1); 17-15-14,00% (Lô TN2).

Kết quả nghiên cứu ở tuần thứ 12 cho thấy tỷ lệ nuôi sống ở lô TN2 (98,00%) cao hơn so với lô ĐC (97,33%) và lô TN1 (97,33%); Sinh trưởng tích lũy ở lô ĐC đạt (2.414,58g/con), cao hơn so với lô TN1 ((2.404,17g/con) và lô TN2 (2.404,08g/con). cấp (P>0,05). Tiêu tốn thức ăn trên kg tăng khối lượng giai đoạn 0-12 tuần tuổi (kg TA/kg tăng khối lượng) ở lô ĐC (12,57kg) cao hơn so với lô TN1 (12 ,45kg) và lô TN2 (12,38kg). Mức tiêu hao thức ăn ở lô TN2 thấp nhất như vậy, hàm lượng protein trong khẩu phần ăn ở lô TN2 là phù hợp cho vịt Sín Chéng nuôi thịt.

Xem nội dung chi tiết tại:http://113.165.166.110:81/bitstream/DL_134679/62912/1/CVv345S2812022034.pdf

Nhóm tác giả: Nguyễn Mạnh Hà1* , Nguyễn Thị Thúy Mỵ2 , Nguyễn Thị Út1 , Phan Thu Hương1 , Ngô Thanh Xuân3 và Phạm Bá Uyên4

1 Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Tỉnh Lào Cai

2 Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3 Trường THPT Chuyên Lào Cai

4 Chi lang Chăn nuôi và Thú y Tỉnh Lào Cai

Đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của bê lai (Wagyu × lai Zebu)Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá đặc điể...
28/07/2024

Đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của bê lai (Wagyu × lai Zebu)
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng của đàn bò lai khi sử dụng tinh bò đực Wagyu trên đàn bò cái Lai Zebu của tỉnh Thái Bình từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2022.

Tổng số 67 bê lai WGLZ đã được đánh số tai, đánh giá ngoại hình và theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển. Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp thường quy, thu thập số liệu chặt chẽ. Phương pháp thống kê mô tả và mô hình GLM trong MINITAB16 đã được sử dụng để phân tích dữ liệu.

Kết quả cho thấy ngoại hình của bê lai WGLZ tương đối đồng nhất, màu sắc lông đen- xám đỏ nâu chiếm phần lớn (87,88%); đen – vàng (3,03%); tỷ lệ có đốm trắng chiếm 9,09%. Bê lai WGLZ có khối lượng cơ thể và tốc độ tăng khối lượng cơ thể cao hơn bê Lai Zebu; Khối lượng sơ sinh trung bình 24,46 kg/con; lúc 12 tháng tuổi đạt 237,1 kg và 18 tháng tuổi đạt 306,2 kg/con. Khối lượng cơ thể của chúng cao hơn bê BrLS từ 10,26 đến 30,45%; cao hơn bê LS từ 34,26 đến 55,03% ở giai đoạn từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi. Nhóm bê lai WGLBr cao hơn WGLS. Tăng khối lượng cơ thể của nhóm WGLZ qua các giai tuổi đạt từ 448,10 g/con/ngày đến 750,90 g/con/ngày; cao hơn nhóm BrLS đến 33,93% và cao hơn nhóm LS từ 30,17 đến 60,09%. Trong đó nhóm WGLBr đạt từ 320,40 g/con/ngày đến 769,60 g/con/ngày; nhóm WGLS đạt từ 527,00 g/con/ngày đến 736,60 g/con/ngày.

Xem nội dung chi tiết tại:

https://vcn.org.vn/Images/files/T%E1%BA%A1p%20ch%C3%AD/2023/s%E1%BB%91%20138/4_%20BaiBaoKH_WGLZ_Dung.pdf

Nhóm tác giả: Đặng Văn Dũng1, Phạm Văn Tiềm2, Vũ Chí Thiện1 và Phạm Văn Giới1
1Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi; 2Bộ khoa học và Công nghệ

Address

Ho Chi Minh City
+84

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share